- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn giữa chị T và anh V"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị La Mo Thị T.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG XUÂN TỈNH PHÚ YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 15/2023/HNGĐ-ST Ngày: 03/8/2023 V/v “Tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG XUÂN, TỈNH PHÚ YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Ngọc Trung
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Ngọc Anh
2. Bà Đặng Thị Duyên
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Trang – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên tham gia phiên toà: Ông Bùi Văn Lâm – Kiểm sát viên.
Vào ngày 03 tháng 8 năm 2023 tại Tòa án Nhân dân huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án HNGĐ thụ lý số: 189/2022/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 11 năm 2022 về “Tranh chấp ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 6 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 13/2023/QĐST-HNGĐ ngày 10/7/2023 giữa các đương sự:
*Nguyên đơn: Chị La Mo Thị T – sinh năm 1992
Địa chỉ: Thôn P, xã M, huyện D, tỉnh Phú Yên.
Hiện trú trại: Thôn K, xã X, huyện D, tỉnh Phú Yên. Có mặt.
*Bị đơn: Anh La O V – sinh năm 1993
Địa chỉ: Thôn P, xã M, huyện D, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và lời trình bày của nguyên đơn chị La Mo Thị T tại phiên tòa như sau:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh La O V có thời gian tìm hiểu với nhau được khoảng 02 tháng. Đến năm 2012 thì cả hai tự nguyện xây dựng gia đình với nhau, có đăng ký kết hôn tại UBND xã M, huyện D, tỉnh Phú Yên. Sau khi kết hôn, cuộc sống chung giữa chị và anh V hạnh phúc trong thời gian đầu, sau đó thường xảy ra mâu thuẫn, bất đồng. Nguyên nhân là do anh V thường ăn nhậu về đánh đập, xúc phạm chị. Nhận thấy không thể nào hòa hợp với nhau được nên chị T dẫn 02 con về ở nhờ phía cha mẹ chị từ năm 2022 cho đến nay, còn anh V đi làm ăn ở xa không về nhà. Nhận thấy tình cảm vợ chồng thật sự không còn nên chị làm đơn yêu cầu xin ly hôn với anh V. Trong thời gian chờ Tòa án giải quyết nhiều lần chị T gọi điện cho anh V về Tòa án để giải quyết ly hôn nhưng anh V không về. Do vậy, hôm nay chị yêu cầu Tòa giải quyết cho chị được ly hôn với anh V.
- Về con chung: Chị và anh V có 02 con chung: La Khánh P – sinh ngày 20/4/2013 và La Thị Phương K – sinh ngày 04/02/2017. Sau khi ly hôn chị T yêu cầu được tiếp tục nuôi 02 con, không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Trong quá trình giải quyết vụ án, xây dựng hồ sơ, Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ bị đơn anh La O V để lấy lời khai, tham gia phiên họp giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh V không đến Tòa để làm việc. Tại phiên tòa hôm nay anh V tiếp tục vắng mặt.
* Tại phiên tòa Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:
- Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; Nguyên đơn đã thực hiện đúng và đầy đủ các quy định về quyền và nghĩa vụ của đương sự; Riêng bị đơn anh La O V không thực hiện đúng các quy định về quyền và nghĩa vụ của đương sự, căn cứ vào Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử là đúng theo quy định của pháp luật.
- Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị HĐXX căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị La Mo Thị T.
- Về con chung: Chị T và anh V có 02 con chung: La Khánh P – sinh ngày 20/4/2013 và La Thị Phương K – sinh ngày 04/02/2017.
Đề nghị HĐXX căn cứ vào Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận giao cháu P và cháu K cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp, việc cấp dưỡng nuôi con chung chị T không yêu cầu nên đề nghị HĐXX không xét giải quyết.
- Về tài sản chung, nợ chung: Chị T không yêu cầu nên không xem xét.
- Về án phí: Hộ gia đình chị La Mo Thị T thuộc diện hộ nghèo. Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, chị T được miễn án phí HNGĐ sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, HĐXX nhận định:
. Về thủ tục tố tụng:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị La Mo Thị T có đơn khởi kiện yêu cầu xin ly hôn với anh La O V. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, xác định quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp ly hôn”. Anh V có địa chỉ tại thôn P, xã M, huyện D, tỉnh Phú Yên nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên theo quy định tại khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS.
Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn đã được Tòa án thực hiện đầy đủ việc tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật nhưng vẫn vắng mặt. Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là đúng theo quy định của pháp luật.
. Về quan hệ hôn nhân: Chị T và anh V có thời gian tìm hiểu, đến năm 2012 thì anh chị tự nguyện xây dựng gia đình với nhau, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện D, tỉnh Phú Yên theo Giấy chứng nhận kết hôn số 70 ngày 25/12/2013. Sau khi kết hôn, cuộc sống chung giữa chị T và anh V hạnh phúc trong thời gian đầu, sau đó thường xảy ra mâu thuẫn, bất đồng. Theo chị T trình bày nguyên nhân là do anh V thường xuyên ăn nhậu, về nhà đánh đập, xúc phạm chị. Chị T nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt, nên chị T yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh V. Quá trình giải quyết vụ án, anh V biết được việc chị T làm đơn yêu cầu xin ly hôn. Tuy nhiên, anh V không đến Tòa để làm việc theo giấy triệu tập của Tòa án.
Tại biên bản xác minh ngày 06/6/2023 của Công an xã M đã gặp ông La Chí C (là cha ruột của anh V), ông Cu trình bày: Gia đình anh La O V hiện vẫn còn đăng ký hộ khẩu tại thôn P, xã M, huyện D, tỉnh Phú Yên. Hộ khẩu gia đình anh V gồm có 04 người gồm: anh V, chị T và 02 con của vợ chồng anh V, chị T. Tuy nhiên, hiện nay chị T và 02 con đã về sinh sống tại thôn K, xã X, huyện D, tỉnh Phú Yên; còn anh V đang làm ăn, sinh sống tại TP. Cần Thơ nhưng ông C không rõ địa chỉ, nơi làm việc cụ thể của anh V.
Hội đồng xét xử xét thấy: Sau khi kết hôn, cuộc sống chung giữa chị T và anh V có hạnh phúc trong trong thời gian đầu, sau đó thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, bất đồng. Nguyên nhân là do anh anh V thường ăn nhậu, dẫn đến đánh đập, xúc phạm chị T nhiều lần. Hiện cả hai không còn sống chung với nhau đã 02 năm và không còn qua lại với nhau. Xét thấy, tình cảm giữa chị T và anh V thật sự không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên xét chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T đối với anh V là có căn cứ và đúng pháp luật.
. Về con chung: Chị T và anh V có 02 con chung: La Khánh P – sinh ngày 20/4/2013 và La Thị Phương K – sinh ngày 04/02/2017. Sau khi ly hôn chị T yêu cầu được trực tiếp nuôi 02 con. Xét thấy anh V hiện không có mặt tại địa phương, hai cháu P và K lâu nay do chị T là người trực tiếp chăm sóc, mặc khác cháu K còn nhỏ và cháu P cũng có nguyện vọng ở với mẹ. Do vậy giao hai cháu P và K cho chị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là hoàn toàn phù hợp. Chị T không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con nên HĐXX không xét giải quyết
. Về tài sản chung, nợ chung: Chị T không yêu cầu nên không xét giải quyết.
. Về án phí: Gia đình chị La Mo Thị T thuộc diện hộ nghèo nên không phải nộp tiền tạm ứng án phí, án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014.
Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị La Mo Thị T.
[1]. Về quan hệ hôn nhân: Chị La Mo Thị T được ly hôn với anh La O V.
[2]. Về con chung: Giao cháu La Khánh P – sinh ngày 20/4/2013 và La Thị Phương K – sinh ngày 04/02/2017 cho chị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị T không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con.
Anh V được quyền thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở. Khi cần thiết có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc việc cấp dưỡng nuôi con.
[3]. Về án phí HNGĐ-ST: Gia đình chị La Mo Thị T thuộc diện hộ nghèo nên không phải nộp tiền tạm ứng án phí, án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
[4]. Về quyền kháng cáo: Chị La Mo Thị T được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh La O V được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được niêm yết công khai hoặc tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND huyện Đồng Xuân; - UBND xã M; - Phòng KTNV-THA TAND tỉnh; - VKSND tỉnh Phú Yên; - Chi cục THADS huyện; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trần Ngọc Trung |