- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị H - Anh N"
- Tòa quyết gì? 1/. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Bùi Thị Thu H được ly hôn anh Vũ Văn Ng.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 15/2023/HNGĐ-ST Ngày: 11/4/2023 V/v: Tranh chấp hôn nhân và gia đình. đình. |
NHÂN DANH
đình đình.
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG, TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Kiên Trung.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Đoàn Ngọc Sử
2. Bà Nguyễn Thị Vĩnh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Anh- Thư ký Tòa án nhân huyện Đông Hưng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng tham gia phiên tòa: Bà Lại Thị Giang- Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 4 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 208/2022/TLST- HNGĐ ngày 08 tháng 12 năm 2022; về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2023/QĐXX-ST ngày 01 tháng 3 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 09/2023/QĐST-HNGĐ ngày 21 tháng 3 năm 2022 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Bùi Thị Thu H, sinh năm 1985; địa chỉ: Số nhà 2/1, tổ 23, khu phố 3, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
2. Bị đơn: Anh Vũ Văn Ngọc, sinh năm 1978; địa chỉ: Thôn K, xã P, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình.
(Chị H có đơn xin vắng mặt, anh Ng vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án; nguyên đơn chị Bùi Thị Thu H trình bày:
- Chị và anh Vũ Văn Ng tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại UBND xã P, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình ngày 04/01/2007. Sau kết hôn vợ chồng sinh sống, làm ăn tại tỉnh Đồng Nai, vợ chồng hòa thuận đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống và không tìm được tiếng nói chung, vợ chồng hay xảy ra cãi vã, đầu năm 2019 anh Ng đã về xã P, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình sinh sống. Vợ chồng đã sống ly thân nhau từ đầu năm 2019 đến nay. Chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống hôn nhân không có hạnh phúc, nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Ng.
- Chị và anh Vũ Văn Ng có 02 con chung là Vũ Ngọc Như Q, sinh ngày 17/6/2007 và Vũ Ngọc Minh Ph, sinh ngày 12/6/2016. Hiện tại cả 2 con chung đang sống cùng chị. Ly hôn, chị xin được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh Ng cấp dưỡng nuôi con.
- Chị và anh Ng không có tài sản chung và không có nợ chung nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản.
* Anh Vũ Văn Ng có nơi trú tại thôn K, xã P, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình. Mọi văn bản tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án như Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa đều được Tòa án tống đạt hợp lệ cho anh Ng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng anh Ng không đến Tòa án để làm việc, không xuất trình tài liệu chứng cứ cho Tòa án và vắng mặt tại phiên tòa.
* Qua xác minh với bà Phạm Thị Đ, sinh năm 1956 (là mẹ kế của anh Ng) có nội dung: Anh Ng và chị H có đăng ký kết hôn tại UBND xã P. Sau khi kết hôn vợ chồng sinh sống, làm ăn ở tỉnh Đồng Nai. Anh Ng có nguyện vọng muốn về quê hương ở xã P, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình để xây dựng nhà cửa, làm ăn sinh sống, xây dựng cơ ngơi cho con cái sau này nhưng chị H không đồng ý và không về cùng anh Ng. Anh Ng đã về xã P, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình sinh sống từ năm 2019, còn chị H vẫn làm ăn, sinh sống ở tỉnh Đồng Nai. Anh Ng đi làm ăn tự do, sáng đi tối về, anh Ng đã nhận được các văn bản tố tụng của Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng liên quan đến việc giải quyết tranh chấp hôn nhân và gia đình giữa chị H và anh Ng, nhưng do anh Ng bận mải công việc nên anh Ng không lên Tòa án làm việc được. Nay chị H xin ly hôn, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Anh Ng và chị H có 02 con chung là Vũ Ngọc Như Q, sinh ngày 17/6/2007 và Vũ Ngọc Minh Ph, sinh ngày 12/6/2016. Hiện các cháu đang sinh sống với chị H ở tỉnh Đồng Nai.
* Xác minh tại UBND xã P, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình có nội dung: Anh Vũ Văn Ng và chị Bùi Thị Thu H đăng ký kết hôn tại UBND xã P, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình vào ngày 04/01/2007. Cả hai anh chị đều đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn K, xã P, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình. Sau kết hôn được một thời gian thì vợ chồng vào tỉnh Đồng Nai làm ăn, sinh sống. Năm 2019, anh Ng về sinh sống, làm việc tại xã P, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình, chị H không về cùng anh Ng mà vẫn sinh sống ở tỉnh Đồng Nai. Nay chị H xin ly hôn anh Ng, đề nghị Tòa án xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.
Anh Ng và chị H có 02 con chung là Vũ Ngọc Như Q, sinh ngày 17/6/2007 và Vũ Ngọc Minh Ph, sinh ngày 12/6/2016. Hiện cả 02 con chung đều đang sinh sống cùng chị H ở tỉnh Đồng Nai; đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật để đảm bảo quyền lợi cho con chung.
* Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:
Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án:
- Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Viện kiểm sát không có yêu cầu, kiến nghị gì.
- Nguyên đơn chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn chưa chấp hành các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung:
- Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình xử cho chị Bùi Thị Thu H được ly hôn anh Vũ Văn Ng.
- Về con chung: Áp dụng Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình.
Giao con chung Vũ Ngọc Như Q, sinh ngày 17/6/2007 và Vũ Ngọc Minh Ph, sinh ngày 12/6/2016 cho chị Bùi Thị Thu H trực tiếp nuôi dưỡng. Chấp nhận việc chị H tự nguyện không yêu cầu anh Ng cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản: Không đặt ra giải quyết.
- Về án phí: Chị Ng phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên Tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
- Về tố tụng:
. Bị đơn anh Vũ Văn Ng có nơi cư trú tại thôn K, xã P, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình; vì vậy, Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 28, 35 và 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
. Anh Ng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt anh Ng.
. Chị Bùi Thị Thu H có đơn xin được vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ vào khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt chị H.
- Về nội dung:
Quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh Ng được xác lập trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn, là hôn nhân hợp pháp. Vợ chồng mâu thuẫn và ly thân nhau đã lâu. Cả hai không có biện pháp gì để hàn gắn tình cảm vợ chồng, anh Ng cũng không đến Tòa án để tham gia phiên hòa giải và tham gia phiên tòa. Điều đó chứng tỏ mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được; vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H.
Về con chung: Cả 2 con chung đang sinh sống ổn định cùng chị Hậu; từ khi vợ chồng ly thân, chị H vẫn chăm sóc con chu đáo, đảm bảo việc học tập, sinh hoạt của con. Con Vũ Ngọc Như Q, sinh ngày 17/6/2007 có nguyện vọng xin được ở với mẹ là chị H. Để đảm bảo quyền lợi mọi mặt của con chung, cần giao cả 2 con chung cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng và chấp nhận việc chị H không yêu cầu anh Ng cấp dưỡng cho con chung.
Về tài sản: Do chị H không yêu cầu giải quyết, anh Ng không có lời khai, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí : Chị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Chị H và anh Ng có quyền kháng cáo trong thời gian luật định.
Vì những lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình. Khoản 1 Điều 28; Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 147, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XIV;
1/. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Bùi Thị Thu H được ly hôn anh Vũ Văn Ng.
2/. Về con chung: Xử giao 02 con chung Vũ Ngọc Như Q, sinh ngày 17/6/2007 và Vũ Ngọc Minh Ph, sinh ngày 12/6/2016 cho chị Bùi Thị Thu H trực tiếp nuôi dưỡng. Chấp nhận việc chị H tự nguyện không yêu cầu anh Vũ Văn Ng cấp dưỡng nuôi con chung.
Anh Vũ Văn Ng được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung. Anh Vũ Văn Ng và chị Bùi Thị Thu H có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu dưỡng cho con khi cần thiết.
3/. Về tài sản: Không đặt ra giải quyết.
4/. Về án phí: Chị Bùi Thị Thu H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm; Chuyển số tiền 300.000 đồng chị H đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003057 ngày 05/12/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đông Hưng thành tiền án phí.
5/. Về quyền kháng cáo: Chị Bùi Thị Thu H và anh Vũ Văn Ng được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
̀
̉
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND huyện Đông Hưng; - Cơ quan thực hiện việc ĐKKH: UBND xã P, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình; - Chi cục THADS huyện Đông Hưng; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐÔNG XÉ T XỬ SƠ THÂM Thẩm phan – Chủ tọa phiên tòa ́ Đã ký Lê Kiên Trung |