- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Phạm Thị Mỹ Ng và ông Dương Thừa Ph"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Phạm Thị Mỹ Ng và ông Dương Thừa Ph.
- Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU ĐỨC TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 15/2023/HNGĐ-ST Ngày: 30-3-2023 “V/v Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU ĐỨC, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Nga.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Ngọc Phi.
2. Ông Bùi Huy Xuân.
-Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Hiệp - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Hồng Phương - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 3 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Đức xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 456/2022/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 10 năm 2022 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06A/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 3 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Châu Đức giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Phạm Thị Mỹ Ng, sinh năm 2000.
HKTT: Tổ A, thôn B, xã C, huyện D, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.
Chỗ ở hiện nay: Tổ A, thôn B, xã C, huyện D, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.
Bị đơn: Ông Dương Thừa Ph, sinh năm 1994.
HKTT: Tổ A, thôn B, xã C, huyện D, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.
Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.
(Bà Ng, ông Ph vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết, nguyên đơn bà Phạm Thị Mỹ Ng trình bày: Sau khi tìm hiểu nhau được khoảng 03 tháng thì bà Ng và ông Dương Thừa Ph mới đi đến hôn nhân. Hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 12-12-2018 tại Ủy ban nhân dân (UBND) xã C, huyện D, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu và tổ chức lễ cưới năm 2019. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống với gia đình ông Ph, sống hạnh phúc được một thời gian ngắn đến khi bà Ng mang thai thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân bà Ng phát hiện ông Ph sử dụng ma túy, không lo làm ăn, tiền vàng có được khi đám cưới bà Ng dành dụm để làm ăn, lo cho con thì ông Ph lại sử dụng vào việc mua ma túy để sử dụng, ăn chơi, không có sự quan tâm, sống không có trách nhiệm với gia đình. Vì không muốn gia đình đổ vỡ và đều là người theo đạo Thiên chúa nên bà Ng cũng cố gắng khuyên can ông Ph từ bỏ ma túy, tập trung làm ăn để lo cho con nhưng ông Ph vẫn không từ bỏ mặc dù đã nhiều lần gia đình đã đưa đi cai nghiện. Từ tháng 5-2022 bà Ng quyết định ly thân. Trong thời gian này bà Ng cũng như ông Ph đã tìm cách hàn gắn tình cảm nhưng vẫn không có kết quả. Ngày 15-8-2022, do ông Ph có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nên đã bị khởi tố và ngày 16-12-2022, Tòa án nhân dân huyện Châu Đức đã xử phạt với mức án 15 (mười lăm) tháng tù giam về “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy” theo bản án hình sự sơ thẩm số 87/2022/HSST ngày 16-12-2022. Hiện ông Ph đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Châu Đức.
Nay, bà Ng yêu cầu Tòa án giải quyết:
Về hôn nhân: Bà Ng xin được ly hôn với ông Ph.
Về nuôi con chung: Bà Ng, ông Ph có 01 người con chung là Dương An Nh, sinh ngày 29-9-2019, hiện cháu Nh đang sống cùng bà Ng nên bà có nguyện vọng được tiếp tục nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu ông Ph cấp dưỡng nuôi con.
Về chia tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong quá trình giải quyết, bị đơn ông Dương Thừa Ph, trình bày: Sau khi tìm hiểu nhau được khoảng 03 tháng thì ông Ph và bà Phạm Thị Mỹ Ng mới đi đến hôn nhân. Hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn ngày 12-12-2018 tại UBND xã C, huyện D, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống với gia đình ông Ph, sống hạnh phúc được một thời gian ngắn khi bà Ng mang thai thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân bà Ng cho rằng ông Ph sử dụng ma túy, không có sự quan tâm, sống không có trách nhiệm với gia đình. Ông Ph thừa nhận cũng có lỗi như bà Ng nêu ra nhưng vì không muốn gia đình đổ vỡ nên ông cũng đã cố gắng sửa đổi nhưng bà Ng vẫn không cho cơ hội. Từ tháng 5-2022 thì ông Ph và bà Ng ly thân. Trong thời gian này ông Ph cũng đã tìm cách hàn gắn tình cảm nhưng không có kết quả.
Ngày 15-8-2022, ông Ph có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nên đã bị khởi tố và ngày 16-12-2022, Tòa án nhân dân huyện Châu Đức đã xử phạt với mức án 15 (mười lăm) tháng tù giam về “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy” theo bản án hình sự sơ thẩm số 87/2022/HSST ngày 16-12-2022. Hiện ông Ph đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Châu Đức nên đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải quan hệ hôn nhân đồng thời đề nghị xử ly hôn đơn phương theo yêu cầu của bà Ng.
Về con chung: Ông Ph, bà Ng có 01 người con chung là Dương An Nh, sinh ngày 29-9-2019, hiện cháu Nhiên đang sống cùng bà Ng nên ông đồng ý để bà Ng được quyền nuôi dưỡng con chung còn ông không cấp dưỡng nuôi con.
Về chia tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:
Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án thì Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn.
Về nuôi con chung: Giao con chung Dương An Nh, sinh ngày 29-9-2019 cho bà Ng được quyền nuôi dưỡng; ghi nhận sự tự nguyện của bà Ng không yêu cầu ông Ph cấp dưỡng nuôi con chung.
Về chia tài sản chung, nợ chung: Bà Ng và ông Ph không yêu cầu nên không giải quyết.
Về án phí: Bà Ng phải nộp án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
. Về tố tụng: Bà Ng và ông Ph sống chung với nhau có đăng ký kết hôn nay bà Ng yêu cầu ly hôn nên đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình. Nơi cư trú của ông Ph là xã C, huyện D, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu nên Tòa án nhân dân huyện Châu Đức thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35; Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bà Ng, ông Ph vắng mặt nhưng đã có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử theo quy định tại khoản 1 Điều 227; Khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
. Về nội dung vụ án:
. Về hôn nhân: Hôn nhân giữa bà Ng và ông Ph trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn ngày 12-12-2018 tại UBND xã C, huyện D, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến khi bà Ng mang thai con chung thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân bà Ng phát hiện ông Ph nghiện ma túy. Từ đó ông Ph không lo làm ăn, tiền bạc vợ chồng dành dụm được từ trước thì ông Ph đã sử dụng cho việc mua ma túy để sử dụng. Qua nhiều lần khuyên can nhưng ông Ph vẫn không sửa đổi nên từ tháng 5-2022 bà Ng quyết định ly thân. Trong thời gian này bà Ng cũng như ông Ph đã tìm cách hàn gắn tình cảm nhưng vẫn không có kết quả. Đến ngày 15-8-2022, do ông Ph có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nên đã bị khởi tố và ngày 16-12-2022, Tòa án nhân dân huyện Châu Đức đã xử phạt với mức án 15 (mười lăm) tháng tù giam về “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy” theo bản án hình sự sơ thẩm số 87/2022/HSST ngày 16-12-2022.
Sau khi thụ lý đơn yêu cầu ly hôn của bà Ng, Tòa án cũng đã thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải nhưng ông Ph đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải. Bà Ng vẫn giữ yêu cầu ly hôn còn ông Ph cũng đồng ý ly hôn. Như vậy, tình trạng hôn nhân giữa bà Ng và ông Ph ngày càng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần áp dụng Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình xử cho bà Ng được ly hôn với ông Ph.
. Về nuôi con chung: Bà Ng và ông Ph có 01 người con chung là Dương An Nh, sinh ngày 29-9-2019. Bà Ng có nguyện vọng được quyền nuôi dưỡng con chung và ông Ph cũng đồng ý, ông Ph không cấp dưỡng nuôi con chung. Xét thấy, sự thỏa thuận này là phù hợp, không trái pháp luật và đạo đức xã hội nên cần áp dụng khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình ghi nhận sự thỏa thuận này.
. Về chia tài sản chung, nợ chung: Bà Ng và ông Ph không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.
. Về án phí: Bà Ng phải nộp 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm (DSST) đối với yêu cầu ly hôn.
. Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Đức tại phiên tòa về thủ tục tố tụng và quan điểm giải quyết vụ án là có cơ sở.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Căn cứ vào Điều 56, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình.
1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Phạm Thị Mỹ Ng và ông Dương Thừa Ph.
2. Về nuôi con chung: Bà Ng và ông Ph có 01 người con chung là Dương An Nh, sinh ngày 29-9-2019;
Giao con chung Dương An Nh, sinh ngày 29-9-2019 cho bà Phạm Thị Mỹ Ng trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Phạm Thị Mỹ Ng không yêu cầu ông Dương Thừa Ph cấp dưỡng nuôi con chung.
Ông Dương Thừa Ph có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà mình không trực tiếp nuôi dưỡng không ai được quyền cản trở.
Cha mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.
3. Về chia tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4. Về án phí: Bà Phạm Thị Mỹ Ng phải nộp 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí DSST đối với yêu cầu ly hôn nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Đức theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0008257 ngày 07 tháng 10 năm 2022; bà Phạm Thị Mỹ Ng đã nộp xong án phí DSST.
Các đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: -TAND tỉnh BR-VT; -VKSND H.Châu Đức; -Chi cục THADS H.Châu Đức; -UBND xã C; -Các đương sự; -Lưu HS. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Lê Thị Thanh Nga |