vanban.org

Bản án 15/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Mỹ P được ly hôn với anh Nguyễn Công B. Về con chung: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phượng - Bằng"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CAO LÃNH
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 08-02-2023
V/v tranh chấp HNGĐ - Ly hôn,
nuôi con và chia tài sản chung

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Võ Thị Kim Hoa

- Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Võ Thị Điệp

Ông Phạm Phước Tâm

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bích Vân– Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.

Trong ngày 08 tháng 02 năm 2023 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Cao Lãnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 452/2022/TLST- HNGĐ ngày 19 tháng 10 năm 2022 về việc: “Tranh chấp hôn nhân gia đình - Ly hôn, nuôi con và chia tài sản chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 361/2022/QĐXXST- HNGĐ ngày 16 tháng 12 năm 2022, Quyết định hoãn phiên tòa số: 06/2023/QĐST-HNGĐ ngày 10 tháng 01 năm 2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Mỹ P, sinh năm 1993

Địa chỉ: Ấp 4, xã S, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.

Bị đơn:

Anh Nguyễn Công B, sinh năm 1985

Địa chỉ: Ấp 4, xã S, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp

(Chị P có đơn xin vắng mặt, anh B vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, lời khai tại tòa án nguyên đơn chị Nguyễn Thị Mỹ P trình bày:

- Về hôn nhân: Chị P và anh B sống chung với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã S, huyện Cao Lãnh ngày 03/02/2015. Trong thời gian đầu sống chung vợ chồng vẫn hạnh phúc, đến đầu năm 2022 vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm trong cách sống, anh B không chịu lo làm ăn, chị P đã nhiều lần nhắc nhở nhưng anh B không thay đổi. Vợ chồng ly thân từ tháng 4/2022 cho đến nay. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không đạt được mục đích, đời sống chung không thể kéo dài. Nên chị Nguyễn Thị Mỹ P yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Công B.

- Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Ngọc Bảo T, sinh ngày 19/12/2015 hiện đang sống chung với anh B và Nguyễn Ngọc Bảo V, sinh ngày 20/5/2019 hiện đang sống chung với chị P. Khi ly hôn chị P yêu cầu được nuôi 02 con chung, yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con chung hàng tháng với số tiền 5.000.000 đồng/tháng/02 con.

Trong quá trình giải quyết vụ án, chị P xin thay đổi yêu cầu khởi kiện: Khi ly hôn chị P yêu cầu được nuôi con chung Nguyễn Ngọc Bảo V, đồng ý giao con chung Nguyễn Ngọc Bảo T cho anh B được trực tiếp nuôi dưỡng, cả hai không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung: Vợ chồng không có tài sản chung, không yêu cầu giải quyết.

- Về nợ chung: Vợ chồng không có nợ chung.

Đối với bị đơn là anh Nguyễn Công B đã được tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo hòa giải và triệu tập xét xử hợp lệ nhưng không có văn bản ý kiến, không tham gia hòa giải và không có mặt tại phiên tòa sơ thẩm.

* Các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án:

- Văn bản ghi ý kiến con chung Nguyễn Ngọc Bảo T, có nội dung: cháu T có nguyện vọng được sống chung với cha khi cha mẹ ly hôn.

- Giấy Chứng minh nhân dân và sổ hộ khẩu Nguyễn Thị Mỹ P (Bản photo);

- Trích lục khai sinh Nguyễn Ngọc Bảo V, sinh ngày 20/5/2019 (Bản sao);

- Trích lục khai sinh Nguyễn Ngọc Bảo T, sinh ngày 19/12/2015 (Bản sao);

- Giấy chứng nhận kết hôn Nguyễn Công B – Nguyễn Thị Mỹ P, ngày đăng ký 03/02/2015 tại UBND xã S, huyện Cao Lãnh (Bản chính).

- Đơn xin xác nhận nơi cư trú, có xác nhận của Công an xã S (ngày 18/11/2022)

Các tài liệu trong hồ sơ các đương sự thống nhất theo biên bản phiên họp công khai và tiếp cận chứng cứ ngày 14/12/2022 và đã thông báo cho đương sự vắng mặt được biết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, lời khai tại Tòa án và yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về quan hệ pháp luật, xét thấy: Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Mỹ P về việc ly hôn với anh Nguyễn Công B, nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp giữa các đương sự là “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình – Ly hôn, con chung và tài sản chung” theo quy định tại Khoản 1, Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về thẩm quyền, xét thấy: Tranh chấp về hôn nhân và gia đình về việc ly hôn giữa các đương sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự; bị đơn hiện đang cư trú tại xã S, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp vụ án nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp, theo quy định tại Khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về tố tụng, xét thấy: nguyên đơn chị P đơn xin vắng mặt, bị đơn là anh B đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành phiên tòa theo quy định tại Khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung, xét yêu cầu của nguyên đơn:

Theo đơn khởi kiện chị Nguyễn Thị Mỹ P yêu cầu được nuôi 02 con chung Nguyễn Ngọc Bảo T, sinh ngày 19/12/2015 và Nguyễn Ngọc Bảo V, sinh ngày 20/5/2019, chị P yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi 02 con chung hàng tháng với số tiền là 5.000.000 đồng. Trong quá trình giải quyết vụ án, chị P xin thay đổi yêu cầu khởi kiện: Chị P yêu yêu cầu được nuôi Nguyễn Ngọc Bảo V và đồng ý giao con chung Nguyễn Ngọc Bảo T cho anh B được trực tiếp nuôi dưỡng, không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con chung. Xét việc tự nguyện thay đổi yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với pháp luật nên chấp nhận.

- Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Mỹ P xin ly hôn với anh Nguyễn Công B là có căn cứ, bởi lẽ: chị P và anh B sống chung với nhau từ năm 2015 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã S, huyện Cao Lãnh ngày 03/02/2015 nên hôn nhân giữa chị P và anh B là hợp pháp. Thời gian đầu vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc nhưng một thời gian sau thì vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng về quan điểm trong cuộc sống, anh B không chăm lo làm ăn, chị P nhiều lần nhắc nhở nhưng không thay đổi. Từ đó, cho thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị P và anh B đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Mỹ P.

- Về con chung: Chị P và anh B có 02 con chung tên Nguyễn Ngọc Bảo T, sinh ngày 19/12/2015 hiện đang sống chung với anh B và Nguyễn Ngọc Bảo V, sinh ngày 20/5/2019 hiện đang sống chung với chị P. Khi ly hôn chị P yêu cầu được nuôi Nguyễn Ngọc Bảo V và đồng ý giao con chung Nguyễn Ngọc Bảo T cho anh B được trực tiếp nuôi dưỡng đồng thời tại tại văn bản ý kiến của cháu Bảo T thì khi cha mẹ ly hôn cháu Bảo T có nguyện vọng được sống chung với anh B, nên chị P yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng Nguyễn Ngọc Bảo V và đồng ý giao con chung Nguyễn Ngọc Bảo T cho anh B được trực tiếp nuôi dưỡng là có căn cứ nên chấp nhận.

- Về cấp dưỡng: Chị P là người trực tiếp nuôi dưỡng con chung Bảo V tuy nhiên không có yêu cầu anh B có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung. Đồng thời, anh B đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do, đồng thời không có nộp văn bản ý kiến nội dung vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình chấp nhận yêu cầu của chị P.

Chị P và anh B có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung, không ai được quyền ngăn cản.

- Về tài sản chung: Chị P trình bày vợ chồng không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

- Về nợ chung: Chị P trình bày trong quá trình sống chung vợ chồng không có nợ chung.

. Về án phí:

Căn cứ Khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án:

Chị P phải nộp 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân và gia đình về ly hôn nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009999 ngày 18/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28, Khoản 1 Điều 35, Khoản 1 Điều 39, Khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, 238, 244 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án:

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

- Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Mỹ P được ly hôn với anh Nguyễn Công B.

- Về con chung:

Chị Nguyễn Thị Mỹ P được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Ngọc Bảo V, sinh ngày 20/5/2019. Anh Nguyễn Công B được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Nguyễn Ngọc Bảo T, sinh ngày 19/12/2015. Chị P và anh B không phải cấp dưỡng nuôi con chung do không có yêu cầu.

Chị Nguyễn Thị Mỹ P và anh Nguyễn Công B có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung, không ai được quyền ngăn cản.

- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Về án phí:

Chị Nguyễn Thị Mỹ P phải chịu 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm về ly hôn nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng mà chị P đã nộp theo Biên lai số 0009999 ngày 18/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.

3. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ