vanban.org

Bản án 15/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Đ.

Về con chung: Không có. Về tài sản chung và nợ chung: Chị Nguyễn Thị Đ.B và Anh Trần Trung H khai không có nên không xem xét giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp về ly hôn giữa Chị Nguyễn THị Đ.B và anh Trần Trung H"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Đ.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BẾN CẦU
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 28-4-2023
V/v tranh chấp “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN CẦU, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vui.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Thanh Sơn;

2. Ông Nguyễn Hòa Nhẫn.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Tươi – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Ngô Minh Đức - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 4 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bến Cầu xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 05/2023/TLHNGĐ-ST ngày 09 tháng 01 năm 2023 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 4 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Đ.B, sinh năm 1982.

Địa chỉ: Thôn ĐT, xã L, huyện T, tỉnh LD.

- Bị đơn: Anh Trần Trung H, sinh năm: 1991.

Địa chỉ: Ấp T, xã L, huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh.

Hiện đang chấp hành án tại Trại giam Thạnh Hòa, huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An.

Tất cả vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Đ.B trình bày: Chị và Anh Trần Trung H tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2016, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh. Vợ chồng chung sống không có con chung.

Anh chị chung sống hạnh phúc đến năm 2017 phát sinh mâu thuẫn, do ông Hiếu quen biết tình cãm với người phụ nữ khác nên chị thuê nhà trọ sống một mình, do anh H năn nỉ nên chị đồng ý tiếp tục chung sống. Tuy nhiên anh H vẫn không thay đổi mà còn sử dụng và nghiện ma túy, chị khuyên nhủ nhiều lần nhưng anh H vẫn không từ bỏ, năm 2020 anh H phạm tội “Cướp giật tài sản” bị Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh xử phạt 08 năm tù. Chị nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu ly hôn với anh H.

Về con chung: Không có.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không yêu cầu giải quyết.

Do bận công việc nên chị B có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

- Bị đơn Anh Trần Trung H trình bày: Tại biên bản lấy lời khai ngày 12-4-2023, anh thống nhất lời trình bày của chị Nguyễn Thị Đ.B. Chị B yêu cầu ly hôn anh đồng ý ly hôn.

Về con chung: Không có.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không yêu cầu giải quyết.

Do đang phải chấp hành án nên anh H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến: Việc tuân theo pháp luật tố tụng từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định pháp luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Đ.B; Con chung, không có; Tài sản chung và nợ chung, chị B và anh H khai không có nên không xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Chị Nguyễn Thị Đ.B và anh Trần Trung H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt là phù hợp với Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Đ.B và anh Trần Trung H kết hôn trên cơ sở hôn nhân tự nguyện, có đăng ký kết hôn nên được pháp luật công nhận là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ.

Xét tình trạng hôn nhân của anh chị thì thấy rằng: Anh chị chung sống vào năm 2016, trong thời gian chung sống anh chị phát sinh nhiều mâu thuẫn do anh H quen biết tình cãm với người phụ nữ khác và nghiện ma túy, chị B khuyên nhủ nhiều lần như anh H vẫn không thay đổi và đã thực hiện hành vi vi phạm pháp luật và đang phải chấp hành án, tại biên bản lấy lời khai ngày 12-4-2023, anh H đồng ý ly hôn. Từ những nhận định trên, có đủ căn cứ cho rằng mâu thuẫn giữa chị B và anh H đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị B là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Không có.

Về tài sản chung và nợ chung: chị B và anh H khai không có và không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Chị B phải chịu án phí theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Đ.B với Anh Trần Trung H. Chị B được ly hôn với anh H.

2. Về con chung: Không có.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Chị Nguyễn Thị Đ.B và Anh Trần Trung H khai không có nên không xem xét giải quyết.

4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Đ.B phải chịu 300.000 đồng tiền án phí sơ thẩm hôn nhân gia đình. Khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0022960 ngày 09-01-2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bến Cầu. Ghi nhận chị B đã nộp đủ tiền án phí.

Các đương sự có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh theo trình tự phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ