- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng tín dụng"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (chi nhánh huyện V - thành phố C II).
- Căn cứ chính? Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH THẠNH THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 15/2023/DS-ST Ngày: 06-4-2023 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH THẠNH, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- T1 phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Nhật Trường
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Tấn Đạt
2. Bà Đoàn Sơn Lâm
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Mỹ Y - Thư ký Tòa án nhân dân huyện V, thành phố C.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V, thành phố C tham gia phiên toà: Bà Khổng Phúc Vĩnh Nhật- Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 4 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện V, thành phố C xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 147/2022/TLST-DS ngày 06 tháng 12 năm 2022 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2023/QĐXXST-DS ngày 17 tháng 02 năm 2023 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam.
Trụ sở: Số 2 L, phường T, quận B, Thành phố H.
Đại diện theo pháp luật: Ông Tiết Văn T – Chức vụ: Tổng giám đốc.
Chi nhánh huyện Vĩnh Thạnh – Cần Thơ II.
Địa chỉ: Số A2-05 Đường P, ấp V, thị trấn V, huyện V, thành phố C.
Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn T1 – Chức vụ: Giám đốc (theo văn bản ủy quyền số 2965/QĐ-NHNo-PC ngày 27/12/2019)
Đại diện theo ủy quyền lại: Ông Nguyễn Vĩnh N – Trưởng phòng Kế hoạch kinh doanh ( theo văn bản ủy quyền số 82/NHNo-UQ ngày 25/7/2022)
Bị đơn: Ông Huỳnh Trung B, sinh năm 1977 và bà Nguyễn Thị Ánh N1, sinh năm 1975.
Cùng địa chỉ: ấp Q, xã T, huyện V, thành phố C.
(Ông T1 có đơn xin vắng mặt, ông B bà N1 vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 25/7/2022 và quá trình giải quyết vụ án đại diện ủy quyền của nguyên đơn ông Nguyễn Vĩnh N trình bày và yêu cầu như sau:
Ngày 13/12/2016, Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam chi nhánh huyện V - Cần Thơ II (gọi tắt là Ngân hàng) có ký với ông Huỳnh Trung B là người đứng tên vay bà Nguyễn Thị Ánh N1 là người thừa kế trong Giấy đề nghị kiêm phương án vay vốn, hợp đồng tín dụng số 1805LAV201603775 để vay số tiền 100.000.000 đồng, thời hạn vay 12 tháng, lãi suất trong hạn là 9%/năm, lãi suất quá hạn băng 150% lãi suất cho vay, mục đích trồng ớt ngày trả cuối cùng là ngày 10/12/2017. Để đảm bảo khoản vay vợ chồng ông B, bà N1 có thế chấp quyền sử dụng đất số thửa 592 tờ bản đồ 02 diện tích 2.181m2 số vào sổ cấp giấy chứng nhận CH02305 đất trồng lúa do ủy ban nhân dân huyện V cấp ngày 05/5/2015 do hộ ông Huỳnh Trung B và bà Nguyễn Thị Ánh N1 đứng tên nhưng không có đăng ký thế chấp. Ông B bà N1 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ kể từ ngày 11/12/2017 nên ông B, bà N1 đã để phát sinh nợ quá hạn gốc và lãi kéo dài T1 trạng chậm trả nợ. Ngân hàng đã nhiều lần đôn đốc, làm việc yêu cầu ông B, bà N1 trả nợ nhưng bên vay vẫn không chủ động trả nợ cho Ngân hàng.
Do vậy Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông Huỳnh Trung B và bà Nguyễn Thị Ánh N1 thanh toán số nợ cho Ngân hàng tính đến ngày 06/4/2023 là trong đó nợ gốc là 100.000.000 đồng và lãi trong hạn là 57.575.000 đồng lãi quá hạn là 24.275.000 và tiền lãi phát sinh từ ngày 07/4/2023 cho đến khi bị đơn trả xong nợ gốc theo lãi suất của Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm phương án vay vốn, hợp đồng tín dụng số 1805LAV201603375 ngày 13/12/2016. Ngân hàng đồng ý trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số thửa 592 tờ bản đồ 02 diện tích 2.181m2 số vào sổ cấp giấy chứng nhận CH02305 đất trồng lúa do ủy ban nhân dân huyện V cấp ngày 05/5/2015 do ông Huỳnh Trung B và bà Nguyễn Thị Ánh N1 khi bị đơn thực hiện xong nợ.
Bị đơn ông Huỳnh Trung B và bà Nguyễn Thị Ánh N1 đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án; thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải; thông báo kết quả phiên họp; quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa nhưng vẫn không có ý kiến và không có mặt để dự phiên tòa.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng là đúng theo quy định pháp luật.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn có trách nhiệm trả cho nguyên đơn tổng dư nợ của khoản vay tạm tính đến ngày 06/4/2023 là: 181.850.000 đồng, trong đó: Nợ gốc: 100.000.000 đồng; Nợ lãi phát sinh: 81.850.000 đồng và tiền lãi phát sinh từ ngày 07/4/2023 cho đến khi bị đơn trả xong nợ gốc theo lãi suất của Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm phương án vay vốn, hợp đồng tín dụng số 1805LAV201603775 ngày 13/12/2016. Ghi nhận sự tự nguyện của Nguyên đơn trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số thửa 592 tờ bản đồ 02 diện tích 2.181m2 số vào sổ cấp giấy chứng nhận CH02305 đất trồng lúa do ủy ban nhân dân huyện Vcấp ngày 05/5/2015 do ông Huỳnh Trung B và bà Nguyễn Thị Ánh N1 khi bị đơn thực hiện xong nợ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi Nên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Sau khi Nên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Ông B, bà N1 đã được Tòa án tống đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa nhưng vẫn không có mặt để dự phiên tòa Ngân hàng có đơn xin xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt ông N; ông B, bà N1 theo quy định tại khoản 1, 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Hợp đồng tín dụng ký kết giữa một bên chủ thể đăng ký kinh doanh và một bên là cá nhân không có đăng ký kinh doanh, sử dụng tiền vay vào mục đích tiêu dùng sinh hoạt nên chưa hội đủ điều kiện quy định tại khoản 1 Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự. Vì vậy, quan hệ pháp luật được xác định là hợp đồng dân sự tín dụng, bị đơn có nơi cư trú tại địa phận huyện Vĩnh Thạnh. Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, loại việc trên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện V, thành phố C.
Về nội dung: Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Hội đồng xét xử xét thấy trước đây ông Huỳnh Trung B là người đứng ra vay và bà Nguyễn Thị Ánh N1 là người thừa kế có đến Ngân hàng Nông Nghiệp & Phát triển nông thôn Việt Nam chi nhánh huyện V, thành phố C II để ký Giấy đề nghị kiêm phương án vay vốn, hợp đồng tín dụng số 1805LAV201603775 để vay số tiền 100.000.000 đồng, thời hạn vay 12 tháng, lãi suất trong hạn là 9%/năm, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay, mục đích trồng ớt ngày trả cuối cùng là ngày 10/12/2017.
Xét giao dịch giữa Ngân hàng và ông Huỳnh Trung B, bà Nguyễn Thị Ánh N1 được xác lập trên cở sở tự nguyện, các bên đương sự đều có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, hợp đồng được lập T văn bản có chữ ký, xác nhận của các bên, không bị lừa dối, hay cưỡng ép, không trái đạo đức xã hội nên giao dịch dân sự trên là phù hợp với quy định pháp luật.
Xét thấy mức lãi suất trong hạn, lãi quá hạn, các bên thỏa thuận trong hợp
đồng tín dụng tại thời điểm xác lập là phù hợp với quy định pháp luật. Ngân hàng đã áp dụng tính tiền lãi đúng theo lãi suất trong hạn, lãi quá hạn mà các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng. Trong quá trình vay ông Huỳnh Trung B đã nhận đủ số tiền vay là 100.000.000đ dung để trồng ớt Khi vay ông B đứng tên vay bà N1 đứng tên thừa kế. Mục đích là để lấy vốn làm ăn chung duy trì cuộc sống gia đình. Do đó, cả hai vợ chồng ông B, bà N1 phải cùng chịu trách nhiệm trả nợ cho Ngân hang theo Điều 27 luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Từ ngày vay ông Huỳnh Trung B và bà Nguyễn Thị Ánh N1 không đóng lãi và trả nợ gốc cho Ngân hàng, Ngân hàng có đến nhắc nhở nhiều lần nhưng ông Huỳnh Trung B và bà Nguyễn Thị Ánh N1 cố T1 tránh né không hợp tác. Nên còn nợ lại số tiền gốc là 100.000.000đ và tiền lãi từ ngày vay cho đến ngày xét xử sơ thẩm là ngày 06/4/2023 bị đơn không đóng lãi. Việc bị đơn không đóng lãi và trả nợ gốc cho Ngân hàng là vi phạm nghĩa vụ trả nợ được quy định tại Điều 3 của hợp đồng tín dụng số: 1805LAV201603775 được ký kết ngày 13/12/2016 và Điều 95 Luật tổ chức tín dụng. Do đó, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu phía bị đơn trả tổng số tiền là 181.850.000 đồng, trong đó: Nợ gốc: 100.000.000 đồng; Nợ lãi phát sinh: 81.850.000 đồng và tiền lãi phát sinh từ ngày 07/4/2023 cho đến khi bị đơn trả xong nợ gốc theo lãi suất của Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm phương án vay vốn, hợp đồng tín dụng số 1805LAV201603775 ngày 13/12/2016 là có căn cứ phù hợp với quy định nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Việc Ngân hàng tự nguyện trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số thửa 592 tờ bản đồ 02 diện tích 2.181m2 số vào sổ cấp giấy chứng nhận CH02305 đất trồng lúa Do ủy ban nhân dân huyện Vcấp ngày 05/5/2015 do hộ ông Huỳnh Trung B khi bị đơn thực hiện xong nợ là đúng pháp luật nên được ghi nhận
Đối với ông B bà N1 sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã tiến hành cấp tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập, Thông báo phiên họp việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông B, bà N1 không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không có văn bản trả lời cho Tòa án, không đưa ra chứng cứ và cũng không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng không vì sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan nên căn cứ theo khoản 2, khoản 4, Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành giải quyết vụ án theo chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ vụ án.
Từ những nhận định trên Hội đồng xét xử thống nhất chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn Việt Nam chi nhánh Vĩnh Thạnh- Cần Thơ II buộc ông Huỳnh Trung B và bà Nguyễn Thị Ánh N1 trả cho Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam chi nhánh Vĩnh Thạnh Cần Thơ II tổng số tiền là 181.850.000 đồng, trong đó: Nợ gốc: 100.000.000 đồng; Nợ lãi phát sinh: 81.850.000 đồng và tiền lãi phát sinh từ ngày 07/4/2023 cho đến khi bị đơn trả xong nợ gốc theo lãi suất của Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm phương án vay vốn, hợp đồng tín dụng số 1805LAV201603775 ngày 13/12/2016 là phù hợp với các Điều 91, 95 của Luật Các tổ chức tín dụng.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
Xét đề nghị của Viện kiểm sát là có cơ sở chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Các Điều 26, 35, 39, 147, 227, 228, 235 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 463, 466, 470 Bộ luật Dân sự 2015; Điều 91 và 95 của Luật tổ chức tín dụng; Điều 27 Luật hôn nhân và gia đình 2014. Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (chi nhánh huyện V - thành phố C II).
Buộc ông Huỳnh Trung B và bà Nguyễn Thị Ánh N1 có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng số tiền 181.850.000 đồng, trong đó: Nợ gốc: 100.000.000 đồng; Nợ lãi phát sinh: 81.850.000 đồng và tiền lãi phát sinh từ ngày 07/4/2023 cho đến khi bị đơn trả xong nợ gốc theo lãi suất của Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm phương án vay vốn, hợp đồng tín dụng số 1805LAV201603775 ngày 13/12/2016.
Ghi nhận sự tự nguyện trả lại cho bị đơn bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa 592 tờ bản đồ 02 diện tích 2.181m2 số vào sổ cấp giấy chứng nhận CH02305 đất trồng lúa Do ủy ban nhân dân huyện Vcấp ngày 05/5/2015 do ông Huỳnh Trung B và bà Nguyễn Thị Ánh N1, khi bị đơn thanh toán xong khoản nợ.
Về án phí sơ thẩm: Ông Huỳnh Trung B và bà Nguyễn Thị Ánh N1 phải nộp 9.092.500 đồng (Chín triệu không trăm chín mươi hai ngàn năm trăm đồng).
Ngân hàng được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp 4.313.000đ (Bốn triệu ba trăm mười ba ngàn) theo biên lai thu tiền số 000504 ngày 21/11/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện V, thành phố C.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a,7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND TP. C; - VKSND huyện V; - Chi cục THADS huyện V; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà Đặng Nhật Trường |