- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Đinh Dũng S và Lò Văn M"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Đinh Dũng S. Buộc bị đơn ông Vì Văn M và bà Lò Thị B phải thanh toán cho ông Đinh Dũng S và bà Nguyễn Thị N số tiền nợ gốc là 32.
- Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI SƠN TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 15/2023/DS-ST Ngày 26 ngày 7 năm 2023 V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI SƠN, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nông Văn Thịnh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đức Việt
Ông Hà Văn Sơ
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Vân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn tham gia phiên toà: Ông Bà Nguyễn Như Quỳnh – Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 7 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số: 30/2023/TLST-DS ngày 01 tháng 02 năm 2023 về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2023/QĐXXST-DS ngày 29 tháng 4 năm 2023 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Đinh Dũng S, sinh năm 1960. Địa chỉ: Tiểu khu A, xã C, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La. Có mặt.
Bị đơn: Ông Vì Văn M, sinh năm 1984 và bà Lò Thị B. Địa chỉ: Bản N, xã P, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1964. Địa chỉ: Tiểu khu A, xã C, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn – ông Đinh Dũng S trình bày:
Từ năm 2012 đến năm 2015, vợ chồng ông Đinh Dũng S có đầu tư cho một số hộ dân tại xã P trong đó có gia đình ông Vì Văn M và bà Lò Thị B, trú tại Bản N, xã P. Sau nhiều lần lấy tiền, ngày 30/12/2013 hai bên đã tiến hành đối chiếu công nợ xác định tính đến ngày chốt nợ, vợ chồng ông M còn nợ ông bà số tiền là 32.070.000VNĐ, thể hiện tại giấy vay tiền ngày 30/12/2013. Theo đó, vợ chồng ông M xác nhận sẽ thanh toán đủ số tiền còn nợ cho ông bà vào ngày 30/11/2014.
Sau khi chốt nợ, ông M vay thêm 14.550.000VNĐ để mua phân giống, gạo, và đồ dùng sinh hoạt, tổng cộng là 46.620.000VNĐ. Tuy nhiên, từ thời điểm đó đến nay, vợ chồng ông M vẫn chưa thanh toán số tiền còn nợ là 46.620.000VNĐ. Mặc dù đã nhiều lần yêu cầu thanh toán nhưng vợ chồng ông M đều khất nợ, không có ý thức thanh toán tiền. Vì vậy, ông khởi kiện đề nghị ông Vì Văn M và bà Lò Thị B. Địa chỉ: Bản N, xã P, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La phải có trách nhiệm thanh toán cho số tiền vay là 46.620.000VNĐ theo giấy vay tiền đề ngày 30/12/2013 và tiền lãi phát sinh từ ngày 30/11/2014 theo đến nay theo lãi xuất quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện, đề nghị ông Vì Văn M và bà Lò Thị B thanh toán số tiền nợ gốc là 46.620.000VNĐ theo giấy vay tiền đề ngày 30/12/2013 và không đề nghị tính lãi.
Tại biên bản lấy lời khai và quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Vì Văn M trình bày như sau:
Ông M xác nhận có nhận đầu tư của bà N và ông S, không vay tiền mặt. Giấy vay tiền nhưng bản chất là chốt nợ lại số tiền ông S đã đầu tư. Chữ ký trong giấy vay tiền ngày 30/12/2013 là của ông ký, xác nhận có nợ 32.000.000VNĐ gồm tiền gốc là 25.000.000VNĐ và tiền lãi. Đối với số tiền 14.550.000VNĐ sau khi chốt nợ, ông không vay, không nhận đầu tư thêm gì. Số tiền còn nợ là 32.000.000VNĐ ông sẽ trả dần, không có khả năng thanh toán 01 lần. Riêng tiền lãi ông không nhất trí.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị N trình bày :
Bà là vợ của ông Đinh Dũng S. Toàn bộ sự việc như ông S trình bày, bà nhất trí với yêu cầu khởi kiện của ông S, đề nghị Tòa án buộc ông Vì Văn M và bà Lò Thị B phải trả cho chúng tôi số tiền vay là 46.620.000VNĐ theo giấy vay tiền đề ngày 30/12/2013 và tiền lãi phát sinh từ ngày 30/11/2014 theo đến nay theo lãi xuất quy định của pháp luật..
Do các đương sự không thỏa thuận được việc giải quyết vụ án, Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo quy định.
Sau khi những người tham gia tố tụng phát biểu tranh luận tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và quan điểm giải quyết vụ án như sau:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định của pháp luật.
- Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến phiên tòa ngày hôm nay nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình. Bị đơn không thực hiện nghĩa vụ theo quy định.
- Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 357, 463, 464, 465, 466 và 468 Bộ luật Dân sự; khoản 1 Điều 147, Điều 227, 266, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm d khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Tuyên xử theo hướng: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Đinh Dũng S. Buộc bị đơn ông Vì Văn M và bà Lò Thị B phải thanh toán cho ông Đinh Dũng S số tiền nợ gốc là 32.000.000VNĐ.
Về án phí: Bị đơn được miễn án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Việm kiểm sát, Hội đồng xét xử xét thấy:
Về quan hệ pháp luật: Nguyên đơn ông Đinh Dũng S khởi kiện yêu cầu ông Vì Văn M và bà Lò Thị B phải thanh toán số tiền vay theo giấy biên nhận vay tiền mặt ngày 30/12/2013 nên Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn thụ lý vụ án tranh chấp hợp đồng vay tài sản, phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Về xác định tư cách tham gia tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Đinh Dũng S cho rằng nguồn gốc của số tiền cho vay là tài sản chung của ông S và vợ là Nguyên Thị N. Do đó Tòa án xác định bà Nguyễn Thị N là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án là đảm bảo quyền lợi hợp pháp của các bên trong vụ án.
Về sự vắng mặt của bị đơn tại phiên tòa: Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 3 nhưng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do, không có đơn đề nghị hoãn phiên tòa nên căn cứ Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Đối với yêu cầu buộc bị đơn trả tiền nợ gốc: Nguyên đơn cung cấp bản gốc giấy vay tiền đề ngày 30/12/2013 có chữ ký của bên vay ông Vì Văn M. Trong quá trình giải quyết vụ án, ông M xác nhận có nhận đầu tư của ông Đinh Dũng S, còn nợ lại là 32.000.000VNĐ. Theo giấy vay tiền ngày 30/12/2013, ông M có trách nhiệm thanh toán đủ cho ông S vào ngày 30/11/2014. Trong quá trình giải quyết vụ án, bà B được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng cố tình không có mặt để nêu quan điểm. Tuy nhiên, khoản nợ được hình thành trong thời kỳ hôn nhân, số tiền vay được sử dụng vào mục đích chung trong gia đình được ông M thừa nhận. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy, giao dịch vay tài sản giữa ông Đinh Dũng S và ông ông Vì Văn M và bà Lò Thị B thể hiện tại giấy vay tiền đề ngày 30/12/2013 là có thật, nội dung của giao dịch là hợp pháp, do đó cần được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Việc bị đơn không thanh toán tiền nợ là vi phạm nghĩa vụ đã thỏa thuận.
Theo giấy vay tiền ngày 30/12/2013 thể hiện số tiền còn nợ là 32.000.000VNĐ. Ông S cho rằng sau khi chốt nợ, ông B vay thêm số tiền 14.550.000VNĐ nên tổng số tiền nợ gốc là 46.620.000VNĐ. Tuy nhiên, phần vay thêm không có xác nhận của ông M bà B và ông B không thừa nhận nên không có căn cứ chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện về số tiền gốc, cần buộc ông Vì Văn M và bà Lò Thị B có trách nhiệm trả số tiền nợ gốc là 32.000.000VNĐ.
Về yêu cầu tính lãi: Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn đề nghị thanh toán lãi chậm trả. Tại phiên tòa, nguyên đơn xin rút yêu cầu tính lãi. Xét thấy, yêu cầu của nguyên đơn là tự nguyện, không trái quy định của pháp luật, cần ghi nhận.
Về án phí: Do toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn được Toà án chấp nhận nên nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch. Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch tương ứng với phần yêu cầu của nguyên đơn đối với bị đơn được Tòa án chấp nhận nhưng được miễn án phí do là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng các Điều 357, 463, 464, 465, 466 và 468 Bộ luật Dân sự; khoản 1 Điều 147, Điều 227, 266, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm d khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Đinh Dũng S. Buộc bị đơn ông Vì Văn M và bà Lò Thị B phải thanh toán cho ông Đinh Dũng S và bà Nguyễn Thị N số tiền nợ gốc là 32.000.000VNĐ (Ba mươi hai triệu đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành (ông Đinh Dũng S) cho đến khi thi hành án xong, ông Vì Văn M và bà Lò Thị B còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
2. Đình chỉ phần yêu cầu của nguyên đơn về tính lãi suất đối với số tiền nợ gốc chậm trả do nguyên đơn rút yêu cầu.
3. Về án phí: Nguyên đơn ông Đinh Dũng S không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.
Bị đơn ông Vì Văn M và bà Lò Thị B được miễn án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
4. Về quyền kháng cáo. Nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La; - Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn; - Chi cục THADS huyện Mai Sơn; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (Đã ký) Nông Văn Thịnh |