- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N.
- Căn cứ chính? Điều 157 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 158 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 167 Luật Đất đai
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN IA GRAI TỈNH GIA LAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 15/2023/DS-ST Ngày 16/5/2023 V/v Tranh chấp Hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN IA GRAI TỈNH GIA LAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đặng Chí Công
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông RChâm Đương
2. Ông Nguyễn Như Quang.
- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Ông Nguyễn Thái Nam, Thư ký Toà án nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Hùng - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 5 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai xét xử công khai vụ án dân sự thụ lý số 205/2021/TLST-DS ngày 28 tháng 10 năm 2021 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 104/2022/QĐXXST-DS ngày 10 tháng 11 năm 2022 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng N
Địa chỉ: 02 L, phường T, quận B, thành phố H.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Tiết Văn T, chức vụ: Tổng giám đốc.
Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Cao Tấn Đ, chức vụ: Giám đốc Ngân hàng N – Chi nhánh huyện I.
Người được ủy quyền lại: Ông Võ Văn S - chức vụ: Phó Giám đốc Ngân hàng N – Chi nhánh huyện I(có mặt).
2. Bị đơn: Ông Đào Văn T; địa chỉ: Làng D, xã Ia, huyện I, tỉnh G (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Đại diện nguyên đơn trình bày: Ngân hàng N (sau đây gọi tắt là Ngân hàng) cho ông Đào Văn T vay 230.000.000đ nhằm mục đích đầu tư chăm sóc cây cà phê và mua sắm vật dụng gia đình theo hợp đồng tín dụng số 245/2019/HĐTD ngày 17/01/2019 ; lãi suất cho vay tại thời điểm ký hợp đồng là 10%/năm, thời hạn vay là 12 tháng. Ông T có trách nhiệm trả số nợ gốc cho Ngân hàng vào ngày 17/01/2020. Ngày 16/7/2021 Ngân hàng có thông báo điều chỉnh giảm lãi suất cho vay trong hạn của Tuấn từ 10%/năm xuống còn 9%/năm trong thời gian từ ngày 15/7/2021 đến hết ngày 31/12/2021.
Để đảm bảo khoản vay trên, Ngân hàng ký kết hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 750118/HĐTC ngày 16/01/2018 với ông Tuấn để nhận thế chấp quyền sử dụng diện tích 12.480,5m2 đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa số 28, tờ bản đồ số 149, địa chỉ: xã Ia Pếch, huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai, theo giấy CNQSD đất số AP 704560 do UBND huyện Ia Grai cấp ngày 31/8/2009.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng, từ ngày 17/01/2019 đến ngày 17/7/2019 ông Tuấn chỉ trả cho Ngân hàng được 11.468.494đ tiền lãi trong hạn. Ngày 17/01/2020 khoản nợ gốc vay đến hạn nhưng ông T không thực hiện nghĩa vụ trả nợ gốc cũng như nợ lãi cho Ngân hàng.
Nay Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông Đào Văn T phải trả cho Ngân hàng các khoản sau: Tiền nợ gốc 230.000.000đ, tiền nợ lãi trong hạn còn lại từ ngày 18/7/2019 đến ngày 17/01/2020 là 11.594.521đ, tiền nợ lãi quá hạn tính từ ngày 18/01/2020 cho đến ngày 16/5/2023 là 113.566.439đ. Tổng cộng cả gốc và lãi là 355.160.960đ. Nếu ông T không trả nợ đầy đủ thì đề nghị Toà án cho xử lý tài sản đã thế chấp theo số liệu đo đạc thực tế để Ngân hàng thu hồi nợ. Ông T phải trả lại cho Ngân hàng 9.000.000đ chi phí xem xét thẩm định và phải chịu án phí theo quy định.
Bị đơn ông Đào Văn T đã được Toà án đã cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng để thực hiện quyền và nghĩa vụ tham gia tố tụng nhưng vắng mặt không rõ lý do, cũng không có ý kiến trình bày gửi cho Toà án.
Phát biểu quan điểm, Kiểm sát viên cho rằng trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán đã tuân thủ đầy đủ các thủ tục tố tụng cần thiết theo quy định của pháp luật; tại phiên tòa Hội đồng xét xử cũng đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng kể từ khi bắt đầu phiên tòa cho đến trước khi nghị án. Về nội dung, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 3 Điều 26; điểm b khoản 2 Điều 227 và Điều 266 của Bộ luật tố tụng dân sự; các điều 317, 318, 319, 323, 463, 466, 500, 501, 502 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 167 và Điều 168 Luật đất đai năm 2013; Điều 91, 95 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Buộc bị đơn phải trả nợ gốc và lãi của hợp đồng tín dụng. Nếu bị đơn không trả được nợ thì Ngân hàng có quyền yêu cầu xử lý tài sản đã thế chấp theo biên bản thẩm định thực tế để thu hồi nợ. Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị buộc bị đơn phải chịu án phí và xử lý tiền chi phí tố tụng theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
. Ngân hàng N khởi kiện ông Đào Văn T để yêu cầu trả tiền nợ gốc và lãi theo hợp đồng tín dụng. Ngoài ra Ngân hàng còn yêu cầu xử lý tài sản thế chấp. Do vậy đây là tranh chấp về Hợp đồng tín dụng theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt mà không có người đại diện tham gia phiên tòa, do vậy Toà án xét xử vắng mặt họ theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2]. Hợp đồng tín dụng số 245/2019/HĐTD ngày 17/01/2019 có nội dung và hình thức phù hợp với quy định tại Điều 463 của Bộ luật dân sự 2015 và Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 nên phát sinh các quyền và nghĩa vụ dân sự giữa các bên. Khi đến hạn trả nợ ngày 17/01/2020, bị đơn không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ gốc cho nguyên đơn là vi phạm về nghĩa vụ trả nợ của bên vay. Do vậy nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn phải thực hiện nghĩa vụ trả tiền nợ gốc đã vay theo hợp đồng tín dụng nói trên là có căn cứ pháp luật.
. Về yêu cầu trả nợ lãi trong hợp đồng tín dụng: Xét sự thỏa thuận về mức lãi suất vay của các bên trong hợp đồng tín dụng nêu trên lãi trong hạn 10%/năm, lãi quá hạn = 150% lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng (trong đó có điều chỉnh giảm lãi suất từ 10%/năm xuống 09%/năm từ ngày 15/7/2021 đến hết ngày 26/11/2021) là phù hợp với quy định của Điều 11 Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng và Luật Các tổ chức tín dụng và Bộ luật Dân sự. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, bị đơn chỉ trả được một phần tiền lãi trong hạn cho nguyên đơn là thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ của bên vay. Tại phiên tòa, đại diện nguyên đơn cung cấp bảng tính lãi, trong đó có xác định rõ lãi trên nợ gốc trong hạn còn lại chưa trả, lãi trên nợ gốc quá hạn tương ứng với thời hạn vay theo từng thời kỳ điều chỉnh lãi suất như nội dung khởi kiện ở trên là phù hợp với quy định của pháp luật.
. Về việc xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất.
Xét hợp đồng thế chấp số 750118/HĐTC ngày 16/01/2018 thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa số 28, tờ bản đồ 149, địa chỉ: làng De Chí, xã Ia Pếch, huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai đã được công chứng và đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng trình tự, thủ tục của pháp luật về giao dịch bảo đảm.
Kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ thể hiện: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bị đơn do cơ quan có thẩm quyền cấp đúng vị trí nhưng không phù hợp với hiện trạng sử dụng đất. Cụ thể bị đơn được cơ quan có thẩm quyền cấp tổng số diện tích là 12.480,5m2 nhưng thực tế chỉ sử dụng 10.473,4m2 (trong đó diện tích ghi trong giấy CNQSD đất là 7.186,1m2, diện tích nằm ngoài giấy CNQSD đất 3.287,3m2). Tuy nhiên qua xác minh tại chính quyền địa phương, xác định: ranh giới đất thực tế quyền sử dụng đất của bị đơn với các chủ sử dụng đất liền kề đã được phân định rõ ràng bằng đường hào sâu, tài sản xác lập trên đất cũng khác nhau qua các thời kỳ; đã sử dụng ổn định, liên tục từ lâu và không tranh chấp với nhau về ranh giới. Như vậy, mặc dù giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho bị đơn có sự sai lệch về vị trí trên bản đồ địa chính, không đúng với diện tích thực tế nhưng không ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khác. Khi nhận thế chấp, Ngân hàng là bên nhận thế chấp đã thực hiện quy trình thẩm định đầy đủ và đúng quy trình đối với diện tích đất thực tế của bên thế chấp. Do đó, trường hợp bị đơn không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi cho Ngân hàng thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Chi cục thi hành án dân sự huyện Ia Grai xử lý diện tích đất thực tế và tài sản gắn liền với đất của bên thế chấp để thu hồi nợ.
. Về chi phí tố tụng: Ngân hàng đã tạm nộp tiền chi phí tố tụng là 9.000.000đ. Số tiền trên đã chi đủ cho cho các công việc thẩm định và đo đạc. Căn cứ vào điều 157 và 158 của Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn phải hoàn trả cho nguyên đơn 9.000.000đ chi phí tố tụng.
. Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Trả lại cho nguyên đơn toàn bộ số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm b khoản 2 Điều 227 và Điều 266 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ các điều 317, 318, 319, 323, 463, 466, 500, 501, 502 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 167 và Điều 168 Luật đất đai năm 2013;
Căn cứ Điều 91, 95 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010;
Căn cứ Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N.
2. Buộc ông Đào Văn T phải trả cho Ngân hàng N: tiền nợ gốc 230.000.000đ, tiền nợ lãi trong hạn còn lại 11.594.521đ, tiền nợ lãi quá hạn 113.566.439đ. Tổng cộng cả gốc và lãi là 355.160.960đ (ba trăm năm mươi lăm triệu một trăm sáu mươi nghìn chín trăm sáu mươi đồng).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 16/5/2023) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất nợ quá hạn mà các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng.
3. Trong trường hợp ông Đào Văn T không thực hiện nghĩa vụ hoặc thực hiện nghĩa vụ không đầy đủ thì Ngân hàng N có quyền yêu cầu Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai xử lý tài sản thế chấp để đảm bảo thi hành án là: quyền sử dụng 10.473,4m2 (trong đó diện tích nằm trong giấy CNQSD đất là 7.186,1m2, diện tích nằm ngoài giấy CNQSD đất là 3.287,3m2) và toàn bộ tài sản gắn liền với đất tại thửa số 28, tờ bản đồ số 149, địa chỉ: xã Ia Pếch, huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai, theo giấy CNQSD đất số AP 704560 do UBND huyện Ia Grai cấp ngày 31/8/2009. Thửa đất có tứ cận như sau: phía Đông giáp đất ông Rơ Mah L, dài 33,83m + 15,87m + 53,72m; phía Tây giáp đất ông Rơ Mah J, dài 30,39m + 13,79m + 27,75m + 35,23m; phía Nam giáp suối, dài 42,64m + 62,83m; phía Bắc giáp đất ông P, có chiều dài lần lượt là 46,42m + 31,38m + 30,05m.
Có sơ đồ đo vẽ kèm theo bản án này và là một bộ phận không thể tách rời của bản án này.
4. Về chi phí tố tụng: Ông Đào Văn T phải trả cho Ngân hàng N 9.000.000đ (chín triệu đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
5. Về án phí:
Ông Đào Văn T phải chịu 17.758.048đ (mười bảy triệu bảy trăm năm mươi tám nghìn không trăm bốn mươi tám đồng) án phí dân sự sơ thẩm để sung quỹ nhà nước.
Trả lại cho Ngân hàng N số tiền đã tạm nộp là 7.425.849đ (bảy triệu bốn trăm hai mươi lăm nghìn tám trăm bốn mươi chín đồng) theo biên lai thu số 0008317 ngày 25/10/2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - Chi cục THADS huyện Ia Grai; - Toà án tỉnh; - VKSND huyện; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Đặng Chí Công |