- Tranh chấp gì? án hình sự — "Sương - Ca Tàng TTPC ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Thế S và Nguyễn Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HOÀ – TP. HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 15/2022/HSST Ngày: 25/4/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HOÀ – TP. HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đình Kiến
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Bá Dân và bà Nguyễn Thị Vân
- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Kim Lành – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hoà tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Vũ - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 4 năm 2022, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Ứng Hoà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 16/2022/HSST ngày 15/4/2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2022/QĐXXST-HS ngày 15/4/2022 đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Văn C - sinh năm 1994; Nơi sinh, nơi ĐKNKTT và nơi ở: thôn N, x H, huyện P, TP. Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá 12/12; dân tộc: Kinh; giới t nh: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị L; chưa c v con; Danh chỉ bản số 037, lập ngày 26/01/2022 tại Công an huyện Ứng Hòa; tiền án: ngày 25/6/2020 bị Tòa án nhân dân huyện Phú Xuyên, TP. Hà Nội xử phạt 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt ngày 01/5/2021; tiền sự: không. Bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/01/2022 đến nay. C mặt theo lệnh tr c xuất.
2. Trần Thế S - sinh năm 1993; Nơi sinh, nơi ĐKNKTT và nơi ở: thôn T, x P, huyện U, TP. Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá 9/12; dân tộc: Kinh; giới t nh: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn C và bà Đào Thị M; chưa c v , con; Danh chỉ bản số 036, lập ngày 26/01/2022 tại Công an huyện Ứng Hòa; tiền án, tiền sự: không. Bị bắt, bị tạm giữ từ ngày 23/01/2022 đến ngày 26/01/2022 tại ngoại. C mặt;
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
Anh Trần Văn H – sinh năm 1983 (vắng mặt)
Trú tại: thôn T, x P, huyện U, TP. Hà Nội
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu c trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đư c t m tắt như sau: Khoảng 14 gi ngày 23/01/2022, Trần Thế S – sinh năm 1993 ở thôn T, x P, huyện U, TP. Hà Nội điều khiển xe mô tô biển kiểm soát (Viết tắt: BKS): 33P8-4478 đến nhà Nguyễn Văn C – sinh năm 1994 ở thôn N, x H, huyện P, TP. Hà Nội rủ C đi mua ma túy về cùng sử dụng thì C đồng ý. Sau đ , C điều khiển xe máy của S chở S đi đến khu vực x Đồng Tân, huyện Ứng Hòa, TP. Hà Nội tìm mua ma túy. Trên đư ng đi, Sương đưa cho C 300.000 đồng để mua ma túy. Khi đi qua khu vực cầu Thái Bằng thuộc địa phận x Đồng Tân, huyện Ứng Hòa thì S dừng xe lại đứng đ i, còn C đi vào một ngõ nhỏ gặp một thanh niên tên “Bình” đang đứng ở đư ng làng hỏi và mua của ngư i này 300.000đ đư c 01 g i ma túy rồi cầm ở tay trái đi ra chỗ Sương đ i rồi cả hai đi về; khi đi đư c khoảng 50m thì C đưa g i ma túy cho S, S cầm ở lòng bàn tay phải và tiếp tục điều khiển xe đi về. Khi về đến cầu Thái Bằng, x Đồng Tân thì bị Tổ công tác thuộc Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy và Công an x Đồng Tân đang làm nhiệm vụ ở đây dừng xe kiểm tra hành ch nh. Qúa trình kiểm tra phát hiện và thu giữ của Sương 01 túi nilon màu trắng, k ch thước khoảng (2x1,5)cm, bên trong chứa tinh thể màu trắng, S và C đều khai thừa nhận đ là ma túy “Đá” mà Sương và C vừa mua để sử dụng. Tổ công tác đưa ngư i và vật chứng về trụ sở UBND x Đồng Tân lập biên bản bắt ngư i phạm tội quả tang và thu giữ, niêm phong vật chứng theo qui định.
Vật chứng thu giữ: - 01 túi nilon màu trắng k ch thước (2x1,5)cm, bên trong chứa tinh thể màu trắng; - 01 xe máy Hoda Wave @ màu xanh, BKS: 33P8-4478
Bản kết luận giám định số 1001/KLGĐ-PC09 ngày 30/01/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an TP. Hà Nội kết luận: “Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilon là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 0,286gam”.
Bản cáo trạng số 15/CT-VKS ngày 15/4/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hòa truy tố Nguyễn Văn Ca và Trần Thế S về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” qui định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự (Viết tắt: BLHS). Tại phiên tòa:
- Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của BLHS, xử phạt Trần Thế S từ 18 đến 24 tháng tù. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của BLHS, xử phạt Nguyễn Văn C từ 18 đến 24 tháng tù.
Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo đều chưa c v con,không c công việc và thu nhập ổn định, sống phụ thuộc gia đình nên miễn phạt bổ sung cho các bị cáo.
Về xử lý vật chứng và an phí: Tịch thu tiêu hủy phong bì thư niêm phong gửi lại sau giám định, mỗi bị cáo phải chịu 200.000đồng tiền án ph hình sự sơ thẩm.
- Các bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội và đều xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đư c tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Quá trình tiến hành tố tụng trong giai đoạn điều tra, truy tố, Điều tra viên và Kiểm sát viên đ thực hiện các qui định của pháp luật.
Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo đều thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội. L i khai tại phiên tòa phù h p với l i khai tại cơ quan điều tra, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác c trong hồ sơ vụ án. Như vậy, Hội đồng xét xử (Viết tắt: HĐXX) c đủ căn cứ xác định: Trần Thế S và Nguyễn Văn C đều là đối tư ng nghiện ma túy, để c ma túy sử dụng cho bản thân, chiều ngày 23/01/2021, S điều khiển xe mô tô BKS: 33P8-4478 mư n của anh Trần Văn H rồi đi từ nhà ở thôn Tư Sản, x Phú Túc, huyện Phú Xuyên, TP. Hà Nội đến nhà Ca ở thôn Nhị Khê, x Hoàng Long, huyện Phú Xuyên, TP. Hà Nội rủ Ca đi mua ma túy về cùng sử dụng thì C đồng ý. Sau đ , C điều khiển xe mô tô của S chở S đến khu vực cầu Thái Bằng, x Đồng Tân, huyện Ứng Hòa, TP. Hà Nội để mua ma túy. Trên đư ng đi, S đưa cho C 300.000 đồng để mua ma túy. Khi tới nơi, Sương ngồi trên xe đ i, còn Ca đi vào một ngõ nhỏ tìm và mua 300.000đ đư c 01 g i ma túy loại Methamphetamine, khối lư ng 0,286gam rồi quay ra cùng Sương đi về và đưa lại g i ma túy cho S. Khi cả hai về đến khu vực cầu Thái Bằng, x Đồng Tân thì bị Tổ công tác Công an x huyện Ứng Hòa và Công an x Đồng Tân đang làm nhiệm vụ kiểm tra, phát hiện bắt giữ. Đối chiếu với qui định của pháp luật hình sự thì hành vi của Trần Thế Sương và Nguyễn Văn C đ phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” qui định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của BLHS.
Bởi vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hoà truy tố các bị cáo theo tội danh và điều khoản luật đ viện dẫn là c căn cứ, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho x hội, không những đ xâm phạm ch nh sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, mà còn làm gia tăng tệ nạn x hội, ảnh hưởng đến sự phát triển của nòi giống, là nguyên nhân dẫn đến các tội phạm khác. Đáng Lưu ý, Nguyễn Văn C đ bị xét xử và phải chấp hành 18 tháng án phạt tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chưa đư c x a án t ch lại tiếp tục phạm tội cùng loại nên bị coi là “Tái phạm. Các bị cáo đều c sức khỏe nhưng không chịu lao động mà lại ham chơi, tự dẫn thân vào con đư ng tệ nạn x hội. Các bị cáo đều c đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức đư c hành vi nhưng cố ý vi phạm; vì vậy, khi quyết định hình phạt HĐXX thấy cần phải áp dụng hình phạt nghiêm, cách ly các bị cáo ra khỏi đ i sống x hội một th i gian nhất định mới c tác dụng cải tạo, giáo dục riêng và răn đe, phòng ngừa chung.
Về t nh chất, vai trò của các bị cáo: Các bị cáo đều là đối tư ng nghiện ma túy, mục đ ch mua ma túy để thỏa m n ham muốn của bản thân. Hành vi của các bị cáo c t nh chất đồng phạm giản đơn, các bị cáo đều c vai trò là ngư i thực hành; xét hành vi của từng bị cáo HĐXX đánh giá bị cáo S là ngư i chủ động khởi sướng, rủ rê, lôi kéo Ca cùng phạm tội, sử dụng phương tiện và tiền của mình để phạm tội nên giữ vai trò ch nh và phải chịu trách nhiệm cao hơn bị cáo Ca. Đối với bị cáo C tuy c vai trò thấp hơn nhưng lần phạm tội này thuộc trư ng h p “Tái phạm” với tội danh cùng loại. Do vậy, S và C phải chịu mức hình phạt như nhau là phù h p.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt bổ sung: Bị cáo C phạm tội khi chưa đư c x a án t ch nên c 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự qui định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của BLHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đều thành khẩn khai báo nên đều đư c hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự qui định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS. Mặt khác, xét các bị cáo đều là đối tư ng nghiện ma túy, mục đ ch tàng trữ để thỏa m n ham muốn của bản thân, các bị cáo đều không c công việc và thu nhập, chưa c v con. Đây là những căn cứ xem xét để giảm nhẹ một phần hình phạt, đồng th i miễn hình phạt bổ sung để các bị cáo yên tâm cải tạo, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật hình sự và ch nh sách nhân đạo của Đảng và Nhà nước đối với ngư i phạm tội.
Đối tư ng bán ma túy cho C, C khai là ngư i đàn ông tên Bình, hơn 40 tuổi, cao khoảng 165cm, trú tại An Thái, Trầm Lộng, Ứng Hòa. Cơ quan điều tra đ tiến hành việc nhận dạng đối với ngư i c ngư i tên Bình như C đ khai; tuy nhiên, C không nhận dạng đư c ngư i bán ma túy cho mình nên không c căn cứ làm rõ, xử lý.
Về vật chứng: Đối với chiếc xe mô tô BKS: 33P8-4478, điều tra làm rõ là chủ sở hữu là anh Trần Văn H i là Anh họ của S; ngày 23/01/2022 S mư n xe này của anh H i, anh H i không biết mục đ ch mư n xe của Sương để đi mua ma túy nên cơ quan điều tra đ xử lý vật chứng trả lại anh H i, anh H i đ nhận lại xe và không c yêu cầu, đề nghị gì khác nên HĐXX không đặt ra xem xét giải quyết. Đối với phong bì thư bên trong chứa ma túy đư c niêm phong gửi lại sau giám định là vật cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy.
Về án ph và quyền kháng cáo: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo đư c quyền kháng cáo theo qui định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106; 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thư ng vụ Quốc hội qui định về án ph , lệ ph Toà án (áp dụng chung cho cả hai bị cáo Trần Thế Svà Nguyễn Văn C). Căn cứ điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự (áp dụng thêm đối với bị cáo Nguyễn Văn C).
Tuyên bố bị cáo Trần Thế S và Nguyễn Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Xử phạt Nguyễn Văn C 20 (Hai mươi) tháng tù, th i điểm chấp hành hình phạt tù t nh từ ngày 23/01/2022. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
- Xử phạt Trần Thế S 20 (Hai mươi) tháng tù, th i điểm chấp hành hình phạt tù t nh từ ngày bắt thi hành án, đư c trừ th i gian tạm giữ từ ngày 23/01/2022 đến ngày 26/01/2022. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Xác nhận việc ngư i c quyền l i ngĩa vụ liên quan (anh Trần Văn H i) đ nhận lại tài sản thuộc quyền sở hữu h p pháp của mình là xe mô tô BKS: 33P8-4478 và không có yêu cầu, đề nghị gì khác nên.
Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư niêm phong gửi lại sau giám định có tình trạng, đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện Ứng Hòa với Chi cục THADS huyện Ứng Hòa ngày 22/4/2022).
Mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án ph hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo đư c quyền kháng cáo trong th i hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND TP. Hà Nội; - CA, VKS, THADS Ứng Hòa; - Bị cáo; - Lưu HS, VP. Héi thÈm nh©n d©n | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Đình Kiến ThÈm ph¸n - Chñ to¹ phiªn toµ |