- Tranh chấp gì? án hình sự — "Cà Văn T, Hà Văn S, Đặng Văn S - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Bị cáo Cà Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 249 Bộ luật hình sự Bộ luật hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PÁC NẶM TỈNH BẮC KẠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 15 /2022/HSST Ngà y: 14/9/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PÁC NẶM – TỈNH BẮC KẠN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Tiến Đại.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lý Hồng Thái.
2. Ông Hoàng Văn Tùng.
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Cao Thị Hải Yến – Thư ký Toà án nhân dân huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên toà: Ông Triệu Xuân Trìu, ông Cà Ngọc Tân - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 9 năm 2022, tại iểm c u trung tâm: Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn à iểm c u thành ph n: Trại tạm giam C ng an tỉnh Bắc ạn. Tòa án nhân dân huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn mở phiên tòa xét xử sơ thẩm trực tuy n công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 11/2022/HSST, ngày 02/8/2022 và theo Quy t ịnh ưa ụ án ra xét xử số 12/2022/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 8 năm 2022 ối với các bị cáo:
Cà Văn T; giới tính: Nam; tên gọi khác: Không; sinh ngày: xx/xx/19xx; nơi sinh: Huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn; nơi cư trú: Thôn N, xã X, huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn; nghề nghiệp: Lao ộng tự ; ảng, oàn: Không; dân tộc: Tày; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; trình ộ học vấn: Lớp 10/12; con ông Cà Văn H, sinh năm 19xx và bà Cà Thị Q, sinh năm 19xx; vợ: Tr n Thị L, sinh năm 20xx; con: Có 02 con, con lớn nhất sinh năm 20xx, con nhỏ nhất sinh năm 20xx; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giam từ ngày 08/3/2022 tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Kạn. Có mặt.
Đặng Văn S; giới tính: Nam; tên gọi khác: Không; sinh ngày: xx/xx/19xx; nơi sinh: Huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn; nơi cư trú: Thôn N, xã B, huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn; nghề nghiệp: Lao ộng tự do; ảng, oàn: Không; dân tộc: Sán Chỉ; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; trình ộ học vấn: Lớp 01/12; con ông Đặng Văn V và bà Lý Thị P; vợ: Bàn Thị H, sinh năm 19xx,; con: Có 02 con, con lớn nhất sinh năm 20xx, con nhỏ nhất sinh năm 20xx; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 08/3/2022 n ngày 17/3/2022, ược thay ổi bằng biện pháp cấm i khỏi nơi cư trú tại xã Bộc Bố, huyện Pác Nặm. Có mặt.
Hà Văn S giới tính: Nam; tên gọi khác: Không; sinh ngày: xx/xx/19xx. Nơi sinh: huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn; nơi cư trú: Th n N, B, huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn; nghề nghiệp: Lao ộng tự do; ảng, oàn: Không; dân tộc: Sán Chỉ; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; trình ộ học vấn: Mù chữ; họ tên cha: Hà Văn B, sinh năm 19xx và bà Triệu Thị L, sinh năm 19xx; vợ: Lý Thị X, sinh năm 19xx; con: Có 02 con, con lớn nhất sinh năm 20xx, con nhỏ nhất sinh năm 20xx; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 08/3/2022 n ngày 17/3/2022 thì ược thay ổi bằng biện pháp cấm i khỏi nơi cư trú tại xã Bộc Bố, huyện Pác Nặm. Có mặt.
* Người bào chữa cho các bị cáo: Bà Nguyễn Phương Bằng – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Bắc Kạn. Có mặt.
Người có quy n l i, nghĩa v liên quan:
1. Chị Tr n Thị L, sinh năm: 20xx. Trú tại: Th n N, X, huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn. Có mặt.
2. Chị Lý Thị X, sinh năm: 19xx. Trú tại: Th n N, B, huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn. Có mặt.
Người làm ch ng: Anh Hoàng Văn T, sinh năm: 19xx. Trú tại: Th n C,
X, huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 18 giờ 30 phút ngày 08/3/2022, Tổ công tác Công an huyện Pác Nặm tu n tra tại thôn N, xã B, huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn thì phát hiện Hà Văn S, trú tại Thôn N, xã B ang iều khiển xe mô tô biển kiểm soát 97B1-xxx.xx chở theo sau là Đặng Văn S, trú cùng thôn với S có biểu hiện tàng trữ trái phép chất ma túy nên ti n hành kiểm tra hành chính. Khi tổ công tác yêu c u dừng e ể kiểm tra thì S thả một gói ược gói bằng giấy màu trắng có dòng kẻ ô li ra ường. Tổ công tác niêm phong ào phong bì ký hiệu S2 và tạm giữ cùng một số tài sản khác ể ti n hành iều tra theo quy ịnh.
Đặng Văn S và Hà Văn S khai nhận: Ngày 08/3/2022, sau khi uống rượu tại nhà của S tại Thôn N, xã B, huyện Pác Nặm, S rủ S mua ma túy về sử dụng giải rượu thì S ồng ý. S với S thống nhất cùng góp tiền i mua ma túy ề sử dụng chung và góp ược số tiền 190.000 , trong ó S góp 140.000 , S góp 50.000 à ể tiền cho S c m. Sau khi thỏa thuận, thống nhất, S iều khiển xe mô tô biển kiểm soát 97B1 xx.xx chở S i n thôn N, thuộc xã B ể tìm mua ma túy, khi i n khu vực nhà họp thôn N thì gặp Cà Văn T, trú tại Thôn N, xã X, huyện Pác Nặm iều khiển xe xe mô tô biển kiểm soát 97B2-xxx.xx i ngược chiều và dừng lại cách chỗ S khoảng 10 mét thì S dừng xe lại, lúc này S một mình i n hỏi T mua ược một gói ma túy loại Heroine với giá 190.000 , sau ó S c m gói ma túy trên tay và ngồi theo xe do S iều khiển về nhà thì bị tổ công tác Công an huyện Pác Nặm ra hiệu dừng xe, S thả gói ma túy ra ường thì bị phát hiện lập biên bản phạm tội quả tang.
Trong ngày 08/3/2022 Cơ quan cảnh sát iều tra Công an huyện Pác Nặm
ti n hành xác minh tại nhà ở của Cà Văn T tại Thôn N, xã X, huyện Pác Nặm, bi t hành vi mua bán trái phép chất ma túy của mình bị bại lộ nên T ra u thú.
Tại biên bản khám ét người, chỗ ở ngày 08/3/2022 ối với Cà Văn T của Cơ quan cảnh sát iều tra Công an huyện Pác Nặm, phát hiện, tạm giữ trên người T số tiền 520.000 à một iện thoại di ộng nhãn hiệu OPPO.
Cà Văn T khai nhận: Khoảng 12 giờ ngày 08/3/2022, T một mình iều khiển xe mô tô biển kiểm soát 97B2-xxx.xx i n khu vực Trung tâm y t huyện B, tỉnh Bắc Kạn mua ược bốn gói ma tuý loại heroine với giá 400.000 của một người àn ng kh ng quen bi t với mục ích ể sử dụng và bán lại ki m lời. Sau khi mua ược ma tuý, T sử dụng h t 01 gói bằng hình thức dùng kim tiêm của mình trích ào cơ thể, số ma túy còn lại, T mang theo người i n thôn N, xã B ể chơi.
Khoảng 15 giờ ngày 08/3/2022, sau khi thỏa thuận và hẹn trước qua iện thoại, tại thôn N, xã Bố, T bán hai gói ma túy Heroine cho Hoàng Văn T, sinh năm 19xx, trú tại thôn C, xã X ược 400.000 . hoảng 17 giờ cùng ngày, tại thôn N, xã B, T bán một gói ma tuý Heroine cho Đặng Văn S ược190.000 . Sau khi bán ma tuý cho S, T iều khiển e m t i theo sau e của S, thấy S bị Công an kiểm tra nên T quay xe bỏ chạy, chạy ược một oạn, xe h t ăng nên T rút chìa khóa à bỏ chi c xe lại rồi thuê e m ể về n xã X, huyện Pác Nặm à sau ó ra u thú.
Tại biên bản cân ác ịnh khối lượng chất ma tuý hồi 22 giờ 30 phút ngày 08/3/2022 ác ịnh: Khối lượng chất bột màu trắng trong phong bì ký hiệu S2 thu giữ của Đặng Văn S và Hà Văn S là 0,14g (không phẩy mười bốn gam). Sau khi cân niêm phong ào phong bì ký hiệu S3 gửi i giám ịnh.
Tại K t luận giám ịnh số 16 ngày 14/3/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn k t luận: Mẫu chất bột màu trắng trong phong bì ký hiệu S3 là ma túy, loại heroine, có khối lượng 0,14 gam.
Vật chứng, tài sản tạm giữ của vụ án gồm:
Hai phong bì niêm phong ký hiệu S4, S5 là giấy gói, vỏ phong bì cũ; một phong bì niêm phong ký hiệu T59 là mẫu vật hoàn trả sau giám ịnh; một xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA EXCITER biển kiểm soát 97B2-xxx.xx và một iện thoại di ộng màu anh en, loại màn hình cảm ứng nhãn hiệu OPPO gắn thẻ sim có bốn số seri cuối 4176 tạm giữ của Cà Văn T; một xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE biển kiểm soát 97 B1-xxx.xx tạm giữ của Hà Văn S. Số vật chứng, tài sản trên hiện ang ược bảo quản tại kho vật chứng.
Đối với số tiền 590.000 mà bị cáo T bán ma túy ược, bị cáo sử dụng h t 70.000 , còn lại 520.000 ang ược tạm giữ và bảo quản tại Kho bạc Nhà nước huyện Pác Nặm.
Một iện thoại di ộng màu en, loại màn hình cảm ứng nhãn hiệu realdme
qua sử dụng, gắn thẻ sim có bốn số seri cuối 6994 là của Hà Văn S không liên quan hành vi phạm tội, Cơ quan iều tra trả lại cho chủ sở hữu.
Đối với chi c iện thoại di ộng, loại màn hình cảm ứng, nhãn hiệu OPPO
qua sử dụng gắn thẻ sim có bốn số seri cuối 4466 là của anh Hoàng Văn T, Cơ quan iều tra chuyển Công an huyện Pác Nặm ể xử lý cùng hành vi vi phạm hành chính.
T¹i b¶n c¸o tr¹ng sè 13/CT-VKSPN ngµy 01 th¸ng 8 n¨m 2022 cña ViÖn kiÓm s¸t nh©n d©n huyện Pác Nặm ®· truy tè ®èi víi Cà Văn T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy ịnh tại iểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự; Đặng Văn S và Hà Văn S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy ịnh tại iểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
* Đ¹i diÖn ViÖn kiÓm s¸t nh©n d©n huyện Pác Nặm trong phÇn luËn téi ®· gi÷ nguyªn quyÕt ®Þnh truy tè ®èi víi các bÞ c¸o à ề nghị Hội ồng xét xử áp dụng iểm s, r khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 50, Điều 54, iểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự, xử phạt ối với bị cáo Cà Văn T từ 06 (sáu) năm n 06 ( sáu) năm 06 (sáu) tháng tù về tội“Mua bán trái phép chất ma túy”. Áp dụng iểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 50, iểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, xử phạt ối với bị cáo Đặng Văn S và Hà Văn S, mỗi bị cáo từ 12 (Mười hai) tháng n 15 (Mười năm) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo thuộc diện hộ nghèo, không có khả năng thi hành hình phạt bổ sung là phạt tiền nên ề nghị không áp dụng.
- Về vật chứng: Hai phong bì niêm phong ký hiệu S4, S5 là giấy gói, vỏ phong bì cũ; một phong bì niêm phong ký hiệu T59 là mẫu vật hoàn trả sau giám ịnh. Số vật chứng trên không có giá trị sử dụng ề nghị tịch thu tiêu hủy theo quy ịnh của pháp luật.
01 (một) diện thoại di ộng màu anh en màn hình cảm ứng, nhãn hiệu OPPO gắn thẻ sim có bốn số seri cuối 4176. Chi c iện thoại này là tài sản của bị cáo Cà Văn T sử dụng vào việc bán ma túy cho Hoàng Văn T, sinh năm 19xx, trú tại thôn C, xã X ề nghị tịch thu, hóa giá sung công quỹ nhà nước.
01 (một) xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA EXCITER biển kiểm soát 97B2-xxx.xx tạm giữ của bị cáo T là tài sản chung của vợ chồng bị cáo T, bị cáo sử dụng chi c xe vào việc phạm tội mà vợ bị cáo là Tr n Thị L không bi t. Đề nghị tịch thu 1/2 giá trị chi c e ể sung công quỹ nhà nước, 1/2 giá trị còn lại của chi c xe trả lại cho vợ bị cáo là chị Tr n Thị L.
01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE biển kiểm soát 97 B1-xxx.xx tạm giữ của bị cáo Hà Văn S là tài sản chung của vợ chồng bị cáo S, bị cáo sử dụng chi c xe vào việc phạm tội mà vợ bị cáo là Lý Thị X không bi t. Đề nghị tịch thu 1/2 giá trị chi c e ể sung công quỹ nhà nước, 1/2 giá trị còn lại của chi c xe trả lại cho vợ bị cáo là chị Lý Thị X.
Số tiền 520.000 (Năm trăm hai mươi nghìn ồng) tạm giữ của bị cáo T là tiền bán ma túy mà có, ể nghị tịch thu sung công quỹ nhà nước.
Truy thu của bị cáo T số tiền 70.000 (Bảy mươi nghìn ồng) do phạm tội mà có ể sung công quỹ nhà nước.
- Về án phí: Các bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở ùng có iều kiện kinh t xã hội ặc biệt khó khăn, có ơn in miễn án phí nên ề nghị miễn án phí cho các bị cáo.
* Các bị cáo thành khẩn, khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và không có ý ki n gì với quy t ịnh truy tố và không có tranh luận gì với luận tội của Viện kiểm sát.
* Người bào chữa cho các bị cáo trình bày lời bào chữa và tranh luận với Đại diện Viện kiểm sát. Người bào chữa
ưa ra những căn cứ pháp lý, trích dẫn các iều luật à các ăn bản pháp luật khác ể bào chữa cho các bị cáo à ề nghị Hội ồng xét xử xem xét về nhân thân, hoàn cảnh gia ình, các tình ti t giảm nhẹ trách nhiệm hình sự ể áp dụng cho các bị cáo ược hưởng sự khoan hồng của pháp luật và xử các bị cáo với mức án thấp nhất trong mức ại diện Viện kiểm sát ề nghị.
* Đại diện Viện kiểm sát, qua tranh luận vẫn giữ nguyên quy t ịnh truy tố và nội dung luận tội ối với bị cáo.
Bị cáo T nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thấy mình
i phạm pháp luật và mong muốn Hội ồng xét xử em ét cho ược hưởng sự khoan hồng của pháp luật ể ược hưởng mức án nhẹ nhất.
Bị cáo S nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thấy mình
i phạm pháp luật và mong muốn Hội ồng xét xử em ét cho ược hưởng sự khoan hồng của pháp luật ể ược hưởng mức án nhẹ nhất.
Bị cáo S nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thấy mình
i phạm pháp luật và mong muốn Hội ồng xét xử em ét cho ược hưởng sự khoan hồng của pháp luật ể ược hưởng mức án nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quy t ịnh tố tụng của Cơ quan iều tra Công an huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Pác Nặm, Kiểm sát viên trong quá trình iều tra, truy tố thực hiện úng ề thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy ịnh của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình iều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý ki n hoặc khi u nại về hành vi, quy t ịnh của cơ quan ti n hành tố tụng, người ti n hành tố tụng. Do ó, các hành i, quy t ịnh tố tụng của cơ quan ti n hành tố tụng, người ti n hành tố tụng thực hiện ều hợp pháp.
Về hành vi bị truy tố, vai trò, tính chất mức ộ nghiêm trọng của hành vi phạm tội của các bị cáo: Bị cáo S và bị cáo S có nhu c u sử dụng ma túy nên
rủ nhau cùng góp tiền à ưa tiền cho S trực ti p mua ma túy về cùng sử dụng, trên ường mang ma túy về thì bị phát hiện và bắt giữ; bị cáo T là người
bán ma túy cho S và S, ngoài ra còn bán cho Hoàng Văn T nhằm thu lợi bất chính. Quá trình iều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, lời khai của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với tài liệu, chứng cứ thu thập ược có trong hồ sơ ụ án.
XÐt tÝnh chÊt hµnh vi các bÞ c¸o thùc hiÖn lµ nguy hiểm cho xã hội, ®· x©m ph¹m chÝnh s¸ch ®éc quyÒn qu¶n lý cña Nhµ n íc vÒ c¸c chÊt ma tóy. Các bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý, trong khi các bị cáo có y ủ năng lực về trách nhiệm hình sự. Hội ồng xét xử xét thấy, việc truy tố và xét xử bị cáo Cà Văn T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo iểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự; bị cáo Hà Văn S và Đặng Văn S về tội“Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo iểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ, úng người, úng tội à úng pháp luật.
Về nhân thân: Bị cáo Cà Văn T, sinh ra và lớn lên tại huyện pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn, ược gia ình nu i ăn học h t lớp 10/12 thì nghỉ học ở nhà lao ộng tự do. Ngày 08/3/2022 nhiều l n thực hiện hành vi bán trái phép chất ma túy trên ịa bàn huyện Pác Nặm. Ngày 15/3/2022 bị Cơ quan cảnh sát iều tra Công an huyện Pác Nặm khởi tố bị can về hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy”. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày từ ngày 08/3/2022 tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Kạn.
Bị cáo Đặng Văn S, sinh ra tại huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn, do hoàn cảnh gia ình nên ược học h t lớp một rồi nghỉ học ở nhà lao ộng tự do, do ham chơi, ua òi nên ngày 08 tháng 3 năm 2022 cùng ới S i mua ma túy ề cùng sử dụng thì bị bắt, ngày 15/3/2022 bị Cơ quan cảnh sát iều tra Công an huyện Pác Nặm khởi tố bị can về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 08/3/2022 n ngày 17/3/2022, ược thay ổi bằng biện pháp cấm i khỏi nơi cư trú.
Bị cáo Hà Văn S, sinh ra tại huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn, do hoàn cảnh gia ình nên kh ng ược i học, có lối sống buông thả, coi thường pháp luật nên ngày 08 tháng 3 năm 2022 cùng ới S i mua ma túy ề cùng sử dụng thì bị bắt, ngày 15/3/2022 bị Cơ quan cảnh sát iều tra Công an huyện Pác Nặm khởi tố bị can về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 08/3/2022 n ngày 17/3/2022, ược thay ổi bằng biện pháp cấm i khỏi nơi cư trú.
Xét bị cáo S và bị cáo S do kh ng ược i học nên nhận thức chưa y ủ về các quy ịnh của pháp luật về ma túy dẫn n phạm tội. Do ó khi quy t ịnh hình phạt c n xem xét cho các bị cáo ược hưởng mức án phù hợp ể ảm bảo răn e, phòng ngừa ồng thời ảm bảo tính nhân ạo, khoan hồng của pháp luật.
Về tình ti t tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Đối với bị cáo Cà Văn T. Sau khi hành vi phạm tội bị phát giác bị cáo ra u thú, quá trình iều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, bị cáo tự khai ra hành vi phạm tội trước ó. Do vậy bị cáo ược hưởng các tình ti t giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy ịnh tại iểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, bị cáo không phải chịu tình ti t tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Xét bị cáo có nhiều tình ti t giảm nhẹ trách nhiệm hình sự ược quy ịnh tại Điều 51 Bộ luật hình sự nên áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự ể xử bị cáo mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt là phù hợp pháp luật.
Đối với bị cáo Đặng Văn S và Hà Văn S quá trình iều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội nên ược hưởng tình ti t giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy ịnh tại iểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự là người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Các bị cáo không phải chịu tình ti t tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Hội ồng xét xử xét thấy bản cáo trạng sè 13/CT-VKSPN ngµy 01 th¸ng 8 n¨m 2022 cña ViÖn kiÓm s¸t nh©n d©n huyện Pác Nặm ®· truy tè ®èi víi Cà Văn T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo iểm b, khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự; Đặng Văn S và Hà Văn S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo iểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ.
Về các nội dung ại diện Viện kiểm sát ề nghị HĐXX tại phiên tòa gồm:
- Áp dụng iểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 50, Điều 54, iểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự, xử phạt ối với bị cáo Cà Văn T từ 06 (sáu) năm n 06 ( sáu) năm 06 (sáu) tháng tù về tội“Mua bán trái phép chất ma túy”. Áp dụng iểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 50, iểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, xử phạt ối với bị cáo Đặng Văn S và Hà Văn S, mỗi bị cáo từ 12 (Mười hai) tháng n 15 (Mười năm) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Ngoài ra ại diện Viện kiểm sát còn ề nghị về hình phạt bổ sung, về xử lý vật chứng à án phí theo quy ịnh của pháp luật.
Xét thấy các nội dung ề nghị của ại diện Viện kiểm sát về tội danh, iều luật áp dụng, về mức hình phạt và các vấn ề khác là phù hợp với quy ịnh của pháp luật, có căn cứ chấp nhận.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy, các bị cáo thuộc diện hộ nghèo, không có khả năng thi hành hình phạt bổ sung là phạt tiền nên không áp dụng là phù hợp.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Hai phong bì niêm phong ký hiệu S4, S5 là giấy gói, vỏ phong bì cũ; một phong bì niêm phong ký hiệu T59 là mẫu vật hoàn trả sau giám ịnh. Số vật chứng trên không có giá trị sử dụng c n tịch thu tiêu hủy theo quy ịnh của pháp luật.
01 (một) diện thoại di ộng màu anh en màn hình cảm ứng, nhãn hiệu OPPO gắn thẻ sim có bốn số seri cuối 4176. Chi c iện thoại này là tài sản của bị cáo Cà Văn T sử dụng vào việc bán ma túy cho Hoàng Văn T, sinh năm 19xx, trú tại thôn C, xã X, c n tịch thu, hóa giá sung công quỹ nhà nước.
01 (một) xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA EXCITER biển kiểm soát 97B2-xxx.xx tạm giữ của bị cáo T là tài sản chung của vợ chồng bị cáo T ược hình thành trong thời kỳ hôn nhân, bị cáo sử dụng chi c xe vào việc phạm tội mà vợ bị cáo là Tr n Thị L không bi t. C n tịch thu 1/2 giá trị chi c e ể sung công quỹ nhà nước, 1/2 giá trị còn lại của chi c xe trả lại cho vợ bị cáo là chị Tr n Thị L là phù hợp với quy ịnh của pháp luật.
01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE biển kiểm soát 97 B1-xxx.xx tạm giữ của bị cáo Hà Văn S là tài sản chung của vợ chồng bị cáo S, ược hình thành trong thời kỳ hôn nhân, bị cáo sử dụng chi c xe vào việc phạm tội mà vợ bị cáo là Lý Thị X không bi t. C n tịch thu 1/2 giá trị chi c e ể sung công quỹ nhà nước, 1/2 giá trị còn lại của chi c xe trả lại cho vợ bị cáo là chị Lý Thị X là phù hợp với quy ịnh của pháp luật.
Số tiền 520.000 (Năm trăm hai mươi nghìn ồng) tạm giữ của bị cáo T là tiền bán ma túy mà có, c n tịch thu sung công quỹ nhà nước.
Truy thu của bị cáo T số tiền 70.000 (Bảy mươi nghìn ồng) do phạm tội mà có ể sung công quỹ nhà nước.
Việc thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 357 Bộ luật dân sự.
Về án phí: Các bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng có iều kiện kinh t xã hội ặc biệt khó khăn, có ơn in miễn án phí. Theo quy ịnh tại Điều 12,Điều 14, Điều 15 Nghị quy t số 326/2016 của UBTVQH quy ®Þnh vÒ ¸n phÝ, lÖ phÝ Tßa ¸n, có căn cứ miễn án phí cho các bị cáo.
Về các vấn ề khác:
Đối với người bán ma túy cho bị cáo Cà Văn T, quá trình iều tra không ác ịnh ược họ tên, ịa chỉ cụ thể, do vậy kh ng có căn cứ ể xử lý.
Đối Hoàng Văn T có hành i mua ma tuý ới Cà Văn T ể sử dụng, nhưng hành i ó chưa cấu thành tội phạm, Cơ quan iều tra chuyển Công an huyện Pác Nặm ể xử lý về hành vi vi phạm hành chính.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố:
Bị cáo Cà Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng iểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 50, Điều 54, iểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự, xử phạt ối với bị cáo 06 ( sáu) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam, ngày 08/3/2022.
Các bị cáo Đặng Văn S và Hà Văn S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Áp dụng iểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 50, iểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự Bộ luật hình sự, xử phạt ối với bị cáo Đặng Văn S 12 (Mười hai) tháng tù, ược trừ i thời gian bị tạm giữ từ ngày 08/3/2022 n ngày 17/3/2022.Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào trại chấp hành án.
- Áp dụng iểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 50, iểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự Bộ luật hình sự, xử phạt ối với bị cáo Hà Văn S 12 (Mười hai) tháng tù, ược trừ i thời gian bị tạm giữ từ ngày 08/3/2022 n ngày 17/3/2022.Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào trại chấp hành án.
2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS
- Tịch thu tiêu hủy số vật chứng không có giá trị sử dụng gồm:
02 (hai) phong bì niêm phong ký hiệu S4, S5 chứa giấy gói, vỏ phong bì cũ; một phong bì niêm phong ký hiệu T59 chứa mẫu vật hoàn trả sau giám ịnh.
- Tịch thu, hóa giá sung công quỹ nhà nước 01 (một) iện thoại di ộng màu anh en màn hình cảm ứng, nhãn hiệu OPPO gắn thẻ sim có bốn số seri cuối 4176 của Cà Văn T.
- Đối với chi c xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA EXCITER biển kiểm soát 97B2-xxx.xx tạm giữ của bị cáo T. Tịch thu 1/2 giá trị chi c e ể sung công quỹ nhà nước, 1/2 giá trị còn lại của chi c xe trả lại cho chị Tr n Thị L, sinh năm 20xx. Trú tại: Th n N, X, huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn.
- Đối với chi c xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE biển kiểm soát 97 B1-xxx.xx tạm giữ của bị cáo Hà Văn S. Tịch thu 1/2 giá trị chi c e ể sung công quỹ nhà nước, 1/2 giá trị còn lại của chi c xe trả lại cho vợ bị cáo là chị Lý Thị X, sinh năm: 19xx. Trú tại: Th n N, B, huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn.
- Tịch thu sung công quỹ nhà nước số tiền 520.000 (Năm trăm hai mươi nghìn ồng) tạm giữ của bị cáo T.
- Truy thu của bị cáo T số tiền 70.000 (Bảy mươi nghìn ồng) do phạm tội mà có ể sung công quỹ nhà nước.
Việc thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 357 Bộ luật dân sự
Số lượng và tình trạng vật chứng theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 02/8/2022 giữa Công an huyện Pác Nặm và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Pác Nặm.
3. Về án phí:Áp dụng Điều 12, Điều 14, Điều 15 Nghị quy t số 326/2016 của UBTVQH quy ®Þnh vÒ ¸n phÝ, lÖ phÝ Tßa ¸n. Miễn toàn bộ án phí cho các bị cáo.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự."
Án xử c ng khai sơ thẩm, có mặt các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa ụ liên quan. Báo cho bi t có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKSND tỉnh, huyện Pác Nặm ; - Cơ quan CSĐT, THA hình sự Công an huyện Pác Nặm; - Chi cục THADS ; - Sở tư pháp; - Bị cáo; người có QL-NVLQ - Lưu hồ sơ; Lưu VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Phạm Tiến Đại |