vanban.org

Bản án 15/2022/HSPT — Hình sự

TAND tỉnh Gia Lai Tuyên án 31/03/2022 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 31/03/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo.

luật Tố tụng Hình sự năm 2015, Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 53/2021/HSST ngày 24-12-2021 của Tòa án Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Ha Van N (Nguyen Thanh Gi) - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 15/2022/HSPT

Ngày: 31/03/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT N ------------------------------- TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có: Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Hồng Các Thẩm phán: Ông Đỗ Văn Hiên Ông Giáp Bá Dự - Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Trà My–Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai. - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Lê Thế Nhơn - Kiểm sát viên. Ngày 31 tháng 3 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 09/2022/TLPT-HS ngày 11 tháng 02 năm 2022 đối với bị cáo Hà Văn N do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 53/2022/HSST ngày 24 tháng 12 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Chư Pr, tỉnh Gia Lai. *Bị cáo có kháng cáo: Hà Văn N, sinh năm 1991; Tại Đà B, tỉnh HB; Nơi cư trú: Thôn Ph, xã IL, huyện Chư Pr, tỉnh Gia Lai; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Tày; Giới tính: N; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt N; Con ông Hà Văn Ph và bà Đinh Thị Ng, có vợ là Lê Thị Thu H và 02 người con; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: năm 2015 bị Toà án nhân dân huyện Chư Pr xử phạt 12 tháng tù giam về tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 135 Bộ luật Hình sự. Ngày 22/12/2015, chấp hành xong hình phạt tù và trở về địa phương sinh sống. Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/4/2020 đến ngày 15/6/2020 được áp dụng biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh và cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa. Trong vụ án còn có bị cáo Nguyễn Thành Gi và Nguyễn Xuân Đ có kháng cáo, nhưng trước khi mở phiên tòa phúc thẩm các bị cáo đã có đơn xin rút toàn bộ nội dung kháng cáo, Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai đã ra Thông báo về việc rút kháng cáo đối với bị cáo Gi và Đ. Ngoài ra, trong vụ án còn có 6 bị cáo khác không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Do muốn thu lợi bất chính từ việc tổ chức đánh bạc nên vào khoảng tháng 10 năm 2019, Thôn Phố H đã hỏi Xa Văn Ng để mượn chòi rẫy của Ng tại làng Hát, xã Ia Pia, huyện Chư Pr để tổ chức đánh bạc dưới hình thức xóc đĩa được thua bằng tiền cho các con bạc thì Ng nói với Gi là “Em làm gì thì làm nhưng đừng liên lụy đến anh là được”. Đến ngày 09/4/2020, Thôn Phố H gọi điện thoại cho Xa Văn Ng hỏi “Chòi rẫy của anh có ở hay không”, Ng nói “không”, Gi nói “Vậy cho em mượn để em tổ chức đánh bạc” thì Ng đồng ý cho Gi mượn nhưng Ng nói lại là “Làm thì làm nhưng đừng để liên luỵ đến anh”. Sau đó, Gi chọn địa điểm là nhà rẫy của Xa Văn Ng thuộc làng H, xã IP, huyện Chư Pr để tổ chức đánh bạc cho các con bạc dưới hình thức xóc đĩa được thua bằng tiền. Sau khi chọn địa điểm xong, Gi chuẩn bị các dụng cụ để phục vụ cho việc đánh bạc gồm: 01 chén sứ, 01 đĩa sứ, 01 bộ vị (gồm 04 con vị) được cắt ra từ các lá bài tú lơ khơ, 01 bộ đục vị (gồm 01 chày gỗ, 01 ống đục bằng kim loại, 01 miếng gỗ để kê đồ đục vị), 01 dây điện dài khoảng 2- 3m, 01 bóng đèn điện, 01 tấm bạt màu đỏ. Sau đó Gi gọi điện thoại cho Nguyễn Huy H, Hà Văn N, Lê Công H và người tên là H1 (hiện chưa rõ lai lịch) ở huyện Chư Sê đến để đánh bạc. Khi chọn địa điểm và chuẩn bị công cụ, phương tiện dùng để đánh bạc xong thì Gi gọi điện thoại cho Xa Văn Ng nói Ng đi làm cho Gi, nghĩa là Gi bảo Ng đi canh đường cho sòng bạc của Gi nhưng Ng không đồng ý. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, Gi gọi điện thoại cho người tên là H1 (hiện chưa rõ lai lịch) ở huyện Chư Sê đến để đánh bạc, lúc này H1 rủ thêm Nguyễn Quốc D và Nguyễn Đăng S đi cùng thì D và S đồng ý. Sau đó H1 gọi xe taxi do anh Chu Xuân C điều khiển chở H1, D và S đến sòng bạc của Gi. Cùng ngày, tại nhà của Nguyễn Xuân Đ lúc này Nguyễn Huy H, Nguyễn Hồng Ph, Lê Xuân Đ và Phùng Minh H đang nhậu cùng với Đ thì Gi gọi điện thoại cho Đ thì Đ biết được Gi mới mở sòng bạc nên Đ nói với mọi người là “Tối nay Gi tổ chức chơi xóc đĩa”, đồng thời nói “Mọi người ăn nhanh rồi đi” thì mọi người đồng ý. Sau đó Đ chở Đ, Ph chở H còn H1 đi xe mô tô một mình đến sòng bạc của Gi. Do có người không biết rẫy của Ng nên lúc này Gi đã gọi điện thoại nhờ Xa Văn Ng đi ra ngã ba làng Hát, xã Ia Pia, huyện Chư Pr để chỉ đường cho các con bạc thì Ng đồng ý. Sau đó, Ng cầm đèn pin và điều khiển xe mô tô đi ra ngã ba làng Hát, xã Ia Pia đứng đợi khoảng 10 phút thì có Nguyễn Xuân Đ chở Lê Xuân Đức đến, lúc này Đ hỏi “Chơi bạc chỗ nào” thì Ng không nói gì mà cầm đèn pin chỉ về hướng chòi rẫy của mình, Đ chở Đức đi tiếp theo hướng Ng chở đến địa điểm sòng bạc tại chòi rẫy làng Hát, xã Ia Pia, huyện Chư Pr. Khi Hà Văn N cùng Lê Quang Tịnh đi từ thị trấn Chư Prông đến xã Ia Me, huyện Chư Pr để lấy xe do N sửa, tại đây thì Gi gọi điện thoại cho N rủ N đến đánh bạc, N đồng ý. Sau đó, N nhờ Tịnh chở N đến sòng bạc của Gi tại làng Hát, xã Ia Pia, huyện Chư Pr. Khi Gi gọi điện thoại rủ Lê Công H đến tham gia đánh

bạc thì Hậu đồng ý, Hậu đã nhờ Trần Công D điều khiển xe mô tô chở Hậu đến sòng bạc của Gi. Đồng thời, Gi gọi điện rủ đối tượng có tên là Cu Em ở huyện Đức Cơ đến để đánh bạc và tham gia tổ chức đánh bạc cùng với Gi thì Cu Em đi cùng với người tên là Hùng và 02 đối tượng khác (hiện chưa rõ lai lịch) đi xe ô tô BKS 53M – 4679 do Phan Chu Trinh điều khiển đến chòi rẫy của Ng ở làng Hát, xã Ia Pia, huyện Chư Pr. Khi Trinh chở Cu Em, Hùng và 02 đối tượng hiện chưa rõ lai lịch đến sòng bạc của Gi, do Cu Em không biết đường đi nên Gi đã gọi điện thoại cho Xa Văn Ng nói “Anh chỉ đường cho xe ô tô khách 16 chỗ xuống rẫy”, lúc này Ng đi ra ngã ba làng Hát, xã Ia Pia, huyện Chư Pr để chỉ đường cho xe ô tô do Trinh điều khiển đến sòng bạc của Gi. Tại sòng bạc của Gi, các con bạc đánh bạc dưới hình thức xóc đĩa chẵn lẻ. Hình thức đánh bạc như sau: Khi bắt đầu chơi thì người cầm cái (người xóc đĩa) đặt 04 con vị (tất cả đều mặt đen hoặc mặt trắng – mặt đen là mặt lưng của lá bài tú lơ khơ, mặt trắng là mặt trước của lá bài - có chất cơ và chất rô) lên 01 cái đĩa sứ, sau đó người cầm cái úp bát sứ lên đĩa sứ và xóc cho các con vị thay đổi vị trí rồi đặt xuống chiếu bạc, lúc này các con bạc sẽ đặt cược bằng tiền, có hai lựa chọn là chẵn và lẻ, con bạc chọn chẵn hay lẻ thì sẽ bỏ tiền vào ô được quy định sẵn là chẵn hay lẻ. Khi đặt cược xong, người cầm cái sẽ mở bát ra để xem kết quả. Nếu kết qủa là 04 mặt trắng hoặc 04 mặt đen, hoặc 02 mặt trắng và 02 mặt đen thì gọi là chẵn, các trường hợp khác gọi là lẻ. Nếu kết quả là chẵn thì người đặt lẻ sẽ thua tiền cược cho người cầm cái, còn người đặt chẵn sẽ ăn số tiền cược bằng với số tiền đã bỏ ra đặt cược từ người cầm cái, và ngược lại. Ngoài ra, con bạc nếu chắc chắn khả năng ra 3 mặt trắng hoặc đen, 4 mặt trắng hoặc đen thì đặt cược tương ứng vào bản vị gọi là Sen cô (là một tấm bìa có 7 hình tròn màu đỏ và 7 hình tròn màu trắng). Nếu kết quả ra đúng như đặt cược thì người chơi sẽ ăn tiền với tỷ lệ cao hơn. Tuy nhiên, ngày 09/4/2020 tại sòng bạc của Gi không có ai đánh bạc dưới hình thức Sen cô. Đến khoảng 23h30 phút cùng ngày, trong lúc Thôn Phố H, Nguyễn Quốc D, Lê Xuân Đ, Hà Văn N, Phùng Minh H1, Nguyễn Huy H, Lê Công H, Nguyễn Xuân Đ đang đánh bạc thì bị lực lượng Công an huyện Chư Pr bắt quả tang, thu trên chiếu bạc số tiền là: 6.060.000 đồng. 2. Giải quyết của Tòa án cấp sơ thẩm: Tại bản án hình sơ thẩm số 53/2021/HSST ngày 24-12-2021 của Tòa án nhân dân huyện Chư Pr, tỉnh Gia Lai đã quyết định đối với bị cáo N: Tuyên bố bị cáo Hà Văn N phạm tội “Đánh bạc”. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38 và Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015; Xử phạt bị cáo Hà Văn N 09(chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án, được trừ thời Gi bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/4/2020 đến ngày 15/6/2020. Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên hình phạt đối với các bị cáo khác, hình phạt bổ sung, xử lý vật chứng, nghĩa vụ chịu án phí và quyền kháng cáo của các bị cáo theo luật định.

3. Kháng cáo của bị cáo Ngày 06/01/2022 bị cáo Hà Văn N kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo. 4. Diễn biến tại phiên tòa phúc thẩm: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo rút kháng cáo xin được hưởng án treo và giữ Ng nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, bị cáo cung cấp biên lai nộp tiền phạt bổ sung. Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ đối với phần kháng cáo xin hưởng án treo do bị cáo rút kháng cáo và căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật tố tụng hình sự chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo để giảm cho bị cáo từ 02 đến 03 tháng tù.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Tại phiên tòa bị cáo rút kháng cáo phần xin được hưởng án treo. Xét việc rút kháng cáo của bị cáo là tự nguyện, Hội đồng xét xử đã giải thích cho bị cáo về hậu quả của việc rút một phần kháng cáo. Căn cứ Điều 342, Điều 348 Bộ luật Tố tụng Hình sự, Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với phần rút kháng cáo. [2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên toà phúc thẩm bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng và cho rằng bản án sơ thẩm đã tuyên là đúng hành vi phạm tội của bị cáo. Theo đó, bị cáo Hà Văn N được Thôn Phố H rủ đến sới bạc của Gi để đánh bạc bằng hình thức sóc đĩa, tổng số tiền các bị cáo tham gia đánh bạc thu giữ tại sới khi bắt quả tang là 6.060.000 đồng. Vì vậy, Tòa án nhân dân huyện Chư Pr xét xử bị cáo về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng tội. [3] Về kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo: Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng vai trò, tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo để xử phạt bị cáo mức án tương xứng. Tại phiên tòa phúc thẩm phát sinh tình tiết giảm nhẹ mới theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự do bị cáo N nộp bản photocopy Biên lai thu tiền phạt bổ sung số tiền 10.000.000đ thể hiện thái độ ăn năn hối cải, chấp hành bản án sơ thẩm đã tuyên cùng với việc xem xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo trong vụ án này tham gia đánh bạc với số tiền 1.500.000đ, ý thức bị cáo biết ăn năn hối cải nên Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giảm cho bị cáo một phần hình phạt để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật. Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ vào Điều 342, Điều 348 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo. 2. Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 53/2021/HSST ngày 24-12-2021 của Tòa án nhân dân huyện Chư Pr, tỉnh Gia Lai về phần hình phạt đối với bị cáo Hà Văn N. Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38 và Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015; Xử phạt bị cáo Hà Văn N 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án, được trừ thời Gi bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/4/2020 đến ngày 15/6/2020. 3. Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12 /2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí tòa án: bị cáo không pH1 chịu tiền án phí hình sự phúc thẩm. 4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. 5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án ./

Cỡ chữ