- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đinh Đức T bị truy tố và xét xử về tội: "Mua bán trái phép chất ma túy" - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Đinh Đức T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TY TỈNH QUẢNG NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 15/2022/HS-ST Ngày 29-7-2022 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TY, TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Kim Văn Sơn;
Các Hội thẩm nhân dân: ông Lê Mạnh Cường và ông Nguyễn Quang Đạc;
- Thư ký phiên tòa: ông Lê Đức Long và bà Hoàng Quỳnh Anh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện TY, tỉnh Quảng Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TY, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: ông Bùi Xuân Huy và ông Vi Đức Kiên - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 7 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 16/2022/TLST-HS ngày 18 tháng 7 năm 2022; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2022/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 7 năm 2022 đối với bị cáo:
Họ và tên: Đinh Đức T – tên gọi khác: không; sinh ngày 17/7/1984, tại huyện TY, tỉnh Quảng Ninh; nơi cư trú: phố ĐT 1, thị trấn TY, huyện TY, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đinh Văn L và bà Khổng Thị Đ; vợ, con: không có; tiền án, tiền sự: không có.
Bị bắt trong trường hợp khẩn cấp ngày 18/5/2022, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện TY. Có mặt tại phòng xét xử trực tuyến – Trại giam Công an tỉnh Quảng Ninh.
* Người làm chứng: anh Lê Th B, sinh năm 1984. Vắng mặt (không có lý do).
* Người chứng kiến: anh Trần Văn Th, sinh năm 1966. Vắng mặt (không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 19 giờ 10 phút, ngày 18/5/2022, tại phố ĐT 1, thị trấn TY, huyện TY, tỉnh Quảng Ninh, Công an huyện TY kiểm tra, phát hiện Lê Th B (sinh năm 1984) cất giấu trong túi quần phía sau bên phải 01 gói ma túy (kí hiệu M1), B khai mua của Đinh Đức T, với giá 480.000 đồng, mục đích để sử dụng. Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện TY đã tiến hành bắt và khám xét khẩn cấp nơi ở của Tâm phát hiện tại nhà kho ở tầng hầm 01 hộp giấy hình chữ nhật, kích thước (13,8x8x3)cm, bên trong đựng 01 túi nilon màu trắng, kích thước (7,4x4,1)cm chứa chất bột màu trắng dạng cục (kí hiệu M2); 01 túi nilon màu trắng, kích thước (10,8x7)cm bên trong chứa chất bột màu trắng dạng cục (kí hiệu M3), đã thu giữ toàn bộ vật chứng nêu trên. Ngoài ra còn thu giữ của Tâm số tiền 480.000đ (bốn trăm tám mươi nghìn đồng).
Tại bản Kết luận giám định số 825/KL-KTHS ngày 25/5/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh kết luận: mẫu vật ký hiệu M1, M2, M3 gửi giám định là ma túy, loại Heroine, M1=0,05 gam; M2=3,214 gam; M3=4,988 gam.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa Đinh Đức T đã khai nhận: Ngày 11/5/2022, Tâm đến thành phố Hải Phòng chơi và mua của một người đàn ông không quen biết 01 túi ma túy loại Heroine với giá 5.000.000đ (năm triệu đồng), mục đích để sử dụng và bán kiếm lời. Sau khi mua được ma túy, Tâm mang về nhà chia ma túy ra thành 02 túi nhỏ và gói một ít ma túy trong mảnh giấy báo rồi cho tất cả vào hộp giấy, cất giấu trong kho tầng hầm của gia đình. Khoảng 19 giờ ngày 18/5/2022, Lê Th B đến hỏi mua ma túy nên Tâm bán cho B 01 gói ma túy với giá 480.000 đồng, đến 19 giờ 30 phút cùng ngày thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện TY đến nhà khám xét, phát hiện, thu giữ toàn bộ ma túy và số tiền đã bán ma túy cho B.
Người làm chứng Lê Th B có lời khai thể hiện: anh B và bị cáo Đinh Đức T là bạn bè cùng phố ĐT 1, học lớp 6 với nhau và đều là người nghiện ma túy. Khoảng 19 giờ, ngày 18/5/2022, do có nhu cầu sử dụng ma túy và biết Tâm là đối tượng nghiện chất ma túy nên B đã đến nhà Tâm để hỏi mua ma túy. Khi đến nhà Bị cáo T, thì Bị cáo T dẫn B vào khu vực nhà kho dưới tầng hầm bằng lối cửa sau. Tại đây, Bị cáo T báo giá 01 tép ma túy giá 480.000đ (bốn trăm tám mươi nghìn đồng). Anh B đồng ý mua, Bị cáo T lấy 01 tép ma túy trong 01 chiếc hộp hình chữ nhật màu đen được giấu trong giỏ đồ bên trong kho dưới tầng hầm đưa cho B. Sau đó, anh B cầm ma túy ra về và đi tìm chỗ để sử dụng, thì bị lực lượng Công an tiến hành kiểm tra, phát hiện tép ma túy đã lập biên bản và thu giữ ma túy.
Người chứng kiến Trần Văn Th có lời khai phù hợp với nội dung vụ án.
Tại bản Cáo trạng số 17/CT-VKS ngày 18 tháng 7 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện TY truy tố bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TY vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử xử bị cáo Đinh Đức T tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo T từ 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng đến 08 (tám) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt (ngày 18/5/2022).
- Không áp dụng hình phạt bổ sung theo khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
- Về xử lý vật chứng: đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu, tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định và 01 hộp giấy hình chữ nhật, màu đen; tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 480.000 đồng do bán ma túy mà có.
Bị cáo không tranh luận gì với lời luận tội và quan điểm giải quyết vụ án của Đại diện Viện kiểm sát.
Bị cáo nói lời sau cùng: nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện TY, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện TY, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận của bị cáo phù hợp nhau; phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của người làm chứng, người chứng kiến; phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như: Bản ảnh vật chứng, Biên bản niêm phong, Biên bản mở niêm phong, Biên bản đóng gói, niêm phong và giao, nhận lại đối tượng giám định, Kết luận giám định, Biên bản bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, Bản kết luận điều tra vụ án hình sự đề nghị truy tố và Cáo trạng. Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 19 giờ ngày 18/5/2022, tại nhà ở của Đinh Đức T; địa chỉ: phố ĐT 1, thị trấn TY, huyện TY, tỉnh Quảng Ninh, Tâm có hành vi bán trái phép 0,05g (không phẩy không năm gam) chất ma túy, loại Heroine cho Lê Th B, với giá 480.000đ (bốn trăm tám mươi nghìn đồng) và tàng trữ trái phép 8,202g (tám phẩy hai không hai gam) chất ma túy, loại Heroine, nhằm mục đích để sử dụng và bán kiếm lời thì bị Công an huyện TY phát hiện và thu giữ vật chứng. Hành vi nêu trên của Bị cáo T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự như cáo trạng số 17/CT-VKS ngày 18/7/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện TY, tỉnh Quảng Ninh truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được tác hại của ma túy nhưng thiếu tu dưỡng rèn luyện bản thân, bất chấp sự ngăn cấm của pháp luật, đã bán 01 gói ma túy khối lượng 0,05 gam chất ma túy Heroine cho Lê Th B, thu lời bất chính 480.000 đồng và cất giấu khối lượng 8,202 gam chất ma túy, loại Heroine, nhằm mục đích để sử dụng và bán kiếm lời. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước về các chất ma túy và vi phạm Luật Phòng, chống ma túy; là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác, gây mất trật tự trị an xã hội.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.
Về nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo có nhân thân tốt, thành khẩn khai báo và ăn hối cải về hành vi phạm tội của mình, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Ngoài ra bị cáo có ông bà nội là người có công với cách mạng nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt: bị cáo lần đầu phạm tội, nhân thân tốt, được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại khoản 1 và 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự nên cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Tuy nhiên bị cáo là đối tượng nghiện chất ma túy, cất giấu khối lượng chất ma túy lớn mục đích để sử dụng và bán kiếm lời và đã bán chất ma túy 01 lần cho anh Lê Th B nên cần phải cách ly ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo thành công dân tốt, giúp bị cáo từ bỏ lệ thuộc vào chất ma túy.
Về hình phạt bổ sung: bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có nghề nghiệp, tài sản hay thu nhập gì, vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Về vật chứng: số ma túy còn lại sau giám định là chất Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành cần tịch thu tiêu hủy nên cần tịch thu tiêu hủy.
01 hộp giấy hình chữ nhật, màu đen, kích thước (13,8x8x13)cm là công cụ cất giấu ma túy, là vật không có giá trị nên cần tịch thu tiêu hủy.
Số tiền 480.000 đồng do bị cáo bán ma túy cho Lê Th B mà có cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.
Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên: về tội danh, điều luật áp dụng, về nhân thân, về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, mức hình phạt, xử lý vật chứng, án phí vụ án là phù hợp với quy định của pháp luật nên có căn cứ chấp nhận.
Nội dung khác:
- Anh Lê Th B có hành vi mua ma túy của Tâm để sử dụng, do hành vi không cấu thành tội phạm nên không xử lý hình sự. Anh Lê Th B bị Tòa án nhân dân huyện TY áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 24 tháng.
- Người đàn ông bán ma túy cho Đinh Đức T, do không xác định được địa chỉ, lý lịch cụ thể, nên không làm rõ được.
Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: bị cáo Đinh Đức T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: bị cáo Đinh Đức T 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt (ngày 18/5/2022).
2. Về xử lý vật chứng:
Áp dụng điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong số 825/KL-KTHS ngày 25/5/2022 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh, là mẫu vật hoàn lại sau giám định, bên trong có các vỏ bao gói ký hiệu lần lượt: M1 chứa 0,01 gam Heroine; M2 chứa 3,16 gam Heroine; M3 chứa 4,94 gam Heroine và 01 hộp giấy hình chữ nhật, màu đen, kích thước (13x8x13)cm đã qua sử dụng.
(Tình trạng như tại biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 17/CCTHADS-BB ngày 26/7/2022 giữa Công an huyện TY với Chi cục Thi hành án dân sự huyện TY).
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 480.000đ (bốn trăm tám mươi nghìn đồng).
(Tình trạng như tại biên bản giao nhận tài sản và biên bản bàn giao, tiếp nhận tài sản để bảo quản cùng số 05/2022/BBBG-CATY giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện TY với Kho bạc Nhà nước TY, cùng ngày 28/6/2022).
3. Về án phí: áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án: buộc bị cáo Đinh Đức T phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: áp dụng khoản 1 Điều 331; khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự: bị cáo Đinh Đức T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Ninh; - VKSND tỉnh Quảng Ninh; - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ninh; - VKSND huyện TY; - Công an huyện TY; - Nhà tạm giữ, CA huyện TY; - Bị cáo; - Thi hành án hình sự huyện TY; - Chi cục THADS huyện TY; - Lưu hồ sơ, án văn. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Kim Văn Sơn |