- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Văn T - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Bị cáo Hoàng Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt Hoàng Văn T tù Chung thân; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CAO BẰNG ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:15/2022/HS-ST Ngày 24-01-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CAO BẰNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lưu Thu Giang.
Thẩm phán: Ông Hoàng Văn Thụ.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lâm Ngọc Thạch,
Ông Đàm Văn Sự,
Bà Bế Thị Chiều.
- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Duy Phong, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cao Bằng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa: Bà Mã Thị Hân, Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cao Bằng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 141/2021/TLST-HS ngày 24 tháng 10 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38/2022/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 01 năm 2022 đối với bị cáo:
Hoàng Văn T, sinh ngày 29 tháng 9 năm 1993 tại huyện H, tỉnh Cao Bằng.
Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Xóm K, xã Q, huyện H, tỉnh Cao Bằng; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Hoàng Văn T, sinh năm 1975 và bà Mã Thị X, sinh năm 1974; Vợ: Nông Thị B, sinh năm 1992; có 02 con: Con lớn sinh năm 2015, con nhỏ sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Năm 2018, bị Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Cao Bằng xử phạt 15 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/7/2021 đến nay; Hiện nay bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Cao Bằng; có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị A - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Cao Bằng, bào chữa cho bị cáo theo quy định của pháp luật; có mặt.
- Người làm chứng: Ông Phạm Minh H, sinh năm 1996, Cán bộ Đồn Biên phòng huyện H, tỉnh Cao Bằng; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 18 giờ 20 phút ngày 03/7/2021, Công an huyện H, tỉnh Cao Bằng phối hợp với Đồn Biên phòng huyện H làm nhiệm vụ trên đường vành đai biên giới mốc 886 thuộc xóm K, xã Q, huyện H, tỉnh Cao Bằng phát hiện Hoàng Văn T cầm theo một túi ni lon màu đỏ đi bộ hướng vào mốc 886 có biểu hiện nghi vấn. Tổ Công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ 03 (ba) khối hình hộp chữ nhật. Sau khi bị bắt quả tang, Hoàng Văn T khai nhận vật chứng thu được là ma túy, của bị cáo và Lương Văn H, sinh năm 1990 (trú tại: Bản U, xã T, huyện H, tỉnh Cao Bằng) đang trên đường vận chuyển đem đi bán cho người Trung Quốc. Đối tượng Lương Văn H đã bỏ chạy khi T bị bắt quả tang.
Ngày 05/7/2021, các cơ quan chức năng tiến hành mở niêm phong cân khối lượng và trích mẫu để trưng cầu giám định: Vật chứng thu giữ có khối lượng 1.054,02 gam. Ngày 06/7/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Cao Bằng quyết định trưng cầu giám định đối với chất bột màu trắng thu giữ của Hoàng Văn T. Bản kết luận giám định số 270/GĐMT ngày 14/7/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cao Bằng đã kết luận: “Mẫu chất bột màu trắng gửi giám định là ma túy, loại Heroine”.
Quá trình điều tra Hoàng Văn T khai nhận như sau: Khoảng 17h45 phút ngày 03/7/2021, T đang ở nhà tại xóm K, xã Q, huyện H thì Lương Văn H gọi điện thoại rủ T cùng mang ma túy đi bán cho người Trung Quốc. Khoảng 17h55 phút cùng ngày, T lên nhà vợ H (gần nhà T) và được H dùng xe ô tô nhãn hiệu Ford Ranger màu đen, biển kiểm soát 11C-056.xx chở vào khu vực mốc 886. Đến đoạn đường rẽ vào mốc, H dừng xe để T cầm túi ni lon màu đỏ bên trong có chứa 03 bánh heroin đi vào mốc 886 trước, còn H lái xe xuống phía dưới dốc đỗ và đi bộ vào sau. Khi T mang túi heroin đi được một đoạn thì bị lực lượng chức năng phát hiện, bắt quả tang. Thấy T bị bắt, H ở phía sau bất ngờ bỏ chạy xuống vực núi. Tổ Công tác đã tiến hành lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Hoàng Văn T và niêm phong toàn bộ vật chứng.
Căn cứ vào lời khai của Hoàng Văn T, mở rộng điều tra, ngày 02/8/2021 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Cao Bằng ra Quyết định khởi tố bị can, Lệnh bắt bị can để tạm giam và Lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở Lương Văn H, tại Xóm K, xã Q, huyện H, tỉnh Cao Bằng. Nhưng tại thời điểm thi hành các quyết định trên, Lương Văn H không có mặt tại địa phương. Ngày 17/8/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Cao Bằng ra Quyết định truy nã bị can Lương Văn H. Ngày 09/9/2021, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Cao Bằng ra Quyết định tách vụ án hình sự để tiếp tục điều tra xử lý theo quy định của pháp luật.
Tại Bản cáo trạng số: 141/CTr-VKSCB(P1) của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng đã truy tố bị cáo Hoàng Văn T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Hoàng Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu ở trên. Bị cáo thừa nhận vì nghĩ sẽ được Lương Văn H trả tiền công khi giao dịch mua bán ma túy hoàn thành nên bất chấp quy định của pháp luật mà vẫn cố tình thực hiện hành vi phạm tội. Về nguồn gốc 03 bánh heroin, T không biết H mua của ai và cũng không biết H định bán cho ai. Bị cáo chỉ nhận lời cùng H mang đến biên giới Việt Nam - Trung Quốc để bán, trên đường đi bị cáo cũng không hỏi H về giá cả và người mua. Bị cáo thể hiện thái độ ăn năn hối cải và thành khẩn khai báo, ngoài ra cũng xin Hội đồng xét xử xem xét đến tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bản thân để cho bị cáo được hưởng lượng khoan hồng của pháp luật.
Kết thúc phần xét hỏi tại phiên tòa, Kiểm sát viên tham gia phiên tòa trình bày lời luận tội khẳng định cáo trạng truy tố bị cáo Hoàng Văn T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng khẳng định bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, nhưng vì muốn có tiền để sử dụng ma túy nên đã đồng ý giúp H mang ma túy đi bán. Bị cáo có vai trò đồng phạm với tính chất giản đơn, thành khẩn khai báo, nhưng là người có nhân thân xấu và khối lượng ma túy do bị cáo thực hiện hành vi phạm tội là rất lớn, do đó đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Hoàng Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; về hình phạt: Áp dụng điểm b khoản 4 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Hoàng Văn T tù Chung thân; Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Đề nghị tịch thu, tiêu hủy toàn bộ số ma túy bắt quả tang; Tịch thu phát mại sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại của Hoàng Văn T.
Trợ giúp viên pháp lý trình bày luận cứ bào chữa như sau: Nhất trí với kết luận của Kiểm sát viên về việc truy tố bị cáo Hoàng Văn T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tuy nhiên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét những vấn đề sau: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn. Về hoàn cảnh gia đình: Bị cáo có hai con nhỏ, bố mẹ già yếu, thu nhập thấp, Hoàng Văn T là lao động chính. Thời gian Hoàng Văn T tham gia thực hiện hành vi phạm tội đến khi bị bắt chỉ trong thời gian 35 phút, bị cáo chỉ là người được rủ cùng đi bán ma túy và thực hiện theo sự chỉ đạo của Lương Văn H. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo bán ma túy để nhận tiền công tuy nhiên chưa bán được thì đã bị bắt giữ, chỉ vì hám lợi nên bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 4 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58 Bộ luật Hình sự xử phạt Hoàng Văn T 20 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy.
Bị cáo Hoàng Văn T nhất trí với luận cứ bào chữa của Trợ giúp viên pháp lý, không có ý kiến bổ sung.
Đại diện Viện Kiểm sát giữ nguyên quan điểm đã đề nghị với lý do: không có đủ căn cứ xem xét hoàn cảnh gia đình khó khăn để bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Số lượng heroin do Hoàng Văn T thực hiện hành vi phạm tội với vai trò giúp sức rất lớn, thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, nên không nhất trí với đề nghị xử phạt 20 năm tù của Người bào chữa.
Trợ giúp viên pháp lý không có ý kiến đối đáp lại và giữ nguyên quan điểm đã trình bày tại luận cứ bào chữa.
Trong lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để bị cáo có cơ hội sớm trở về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện H; Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Cao Bằng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo Hoàng Văn T và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Hoàng Văn T thừa nhận nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng phản ánh đúng thực tế hành vi phạm tội và truy tố bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” là đúng. Lời khai nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang do Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H lập hồi 19 giờ 00 phút ngày 03/7/2021; biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại vật chứng vào hồi 11 giờ 40 phút ngày 05/7/2021; bản kết luận giám định số 270/GĐMT ngày 14/7/2021; lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, cùng các tài liệu, chứng cứ thu thập được trong quá trình điều tra vụ án.
Qua nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay, Hội đồng xét xử nhận định: có đủ căn cứ chứng minh vào lúc 17 giờ 45 phút ngày 03/7/2021, Hoàng Văn T nhận lời cùng Lương Văn H mang ma túy vào mốc biên giới 886 thuộc xóm K, xã Q, huyện H để bán cho người Trung Quốc. T được H hứa sẽ trả tiền công sau khi bán được ma túy. Khi lên xe ô tô Ford Ranger màu đen, biển kiểm soát 11C-056.xx do H điều khiển, bị cáo nhìn thấy dưới chỗ ngồi có 01 túi nilon màu đỏ, T biết đó là túi ma túy, nhưng không mở ra xem. Xe đi vượt chốt phòng chống dịch Covid của Đồn Biên phòng huyện H, Cao Bằng khoảng 300m đến đường rẽ lên mốc 886, H dừng xe và bảo T xách túi ma túy đi bộ vào mốc 886 trước. T xuống xe tay cầm túi nilon màu đỏ bên trong có chứa 03 bánh ma túy đi bộ hướng vào mốc 886, còn Lương Văn H đỗ xe và bước bộ theo sau. Khi T đi được khoảng 100 m thì bị tổ công tác Công an huyện H phát hiện, lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ vật chứng.
Về tính chất và mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử khẳng định: Mặc dù Lương Văn H và Hoàng Văn T chưa bán được heroin như mục đích ban đầu, nhưng hành vi mua bán trái phép chất ma túy của bị cáo Hoàng Văn T với vai trò là người giúp sức đã hoàn thành. Theo lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, Hoàng Văn T không biết nguồn gốc ma túy H lấy ở đâu và bán cho ai, nhưng T được H hứa trả công khi bán được ma túy, do vậy có đủ căn cứ kết luận Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng truy tố bị cáo Hoàng Văn T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 4 Điều 251 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Bị cáo Hoàng Văn T thực hiện hành vi mua bán ma túy với số lượng đặc biệt lớn. Bị cáo tham gia vào việc vận chuyển ma túy đi bán với mong muốn được trả công. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý về ma túy của Nhà nước, tạo điều kiện cho tệ nạn và các tội phạm về ma túy tồn tại. Mặt khác hành vi phạm tội của bị cáo còn gây mất trật tự trị an địa phương, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân, cản trở cho cuộc đấu tranh phòng chống các tội phạm về ma tuý của Đảng và Nhà nước ta, việc làm của bị cáo đã góp phần gieo rắc cái chết trắng trong cộng đồng, thúc đẩy việc hình thành những hành vi phạm tội khác nên cần xử lý nghiêm khắc để làm gương cho người khác, đồng thời phục vụ công tác phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm ma túy ở địa phương.
. Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Hoàng Văn T có nhân thân xấu, năm 2018 đã bị Tòa án nhân dân huyện H xử phạt 15 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để hướng đến con đường làm ăn lương thiện, mà vẫn tích cực giúp sức, tham gia vào việc mua bán trái phép chất ma túy với số lượng rất lớn, nhằm lấy tiền mua ma túy để bản thân sử dụng. Do vậy, cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo để thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật, nhằm mục đích góp phần vào việc tuyên truyền, đấu tranh phòng chống các loại tội phạm nói chung và tội phạm về ma túy nói riêng.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Hoàng Văn T thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên khi quyết định hình phạt cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Tuy nhiên, khi lượng hình cũng cần xem xét đến vai trò của bị cáo: Hoàng Văn T chỉ tham gia vào giai đoạn sau của vụ án, với vai trò là đồng phạm giản đơn. Bị cáo không biết nguồn gốc số heroin, cũng không được Lương Văn H bàn bạc trước về việc bán ma túy cho người Trung Quốc, Khi lên xe ô tô để đi vào cột mốc 886, T mới nhìn thấy túi đựng ma túy, với suy nghĩ đơn giản là sau khi bán được ma túy thì bị cáo sẽ được Lương Văn H trả tiền công. Cho đến khi bị cơ quan chức năng phát hiện, bắt quả tang bị cáo cũng chưa biết sẽ được H trả cho bao nhiêu tiền. Do vậy, cũng cần xem xét để áp dụng mức hình phạt thể hiện chính sách khoan hồng của Đảng và Nhà nước ta đối với bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng: Không có.
Đối với ý kiến của người bào chữa đề nghị xem xét cho bị cáo được hưởng mức hình phạt 20 năm tù: Xét thấy bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, tuy nhiên bị cáo thực hiện hành vi mua bán ma túy với khối lượng lớn, bị cáo đã giúp sức cho Lương Văn H mang ma túy tiêu thụ sang Trung Quốc và có nhân thân xấu. Hội đồng xét xử xét thấy cần phải xử phạt bị cáo hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội vĩnh viễn mới đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật và răn đe những ai đang có ý định phạm tội như bị cáo. Về đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ vì có hoàn cảnh gia đình khó, xét thấy không có căn cứ để chấp nhận. Vì trong gia đình, ngoài bị cáo ra thì vợ bị cáo cũng đang trong độ tuổi lao động; bên cạnh đó động cơ phạm tội của Hoàng Văn T là lấy tiền để mua ma túy cho bản thân sử dụng.
Đối với đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng, xét thấy phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo, có căn cứ pháp luật nên cần được chấp nhận.
. Hình phạt bổ sung:
Khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự quy định:“Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 1 đến 5 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.
Hội đồng xét xử thấy bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
. Việc xử lý vật chứng:
Số vật chứng là 01 hộp cát tông niêm phong theo quy định, mặt trước ghi “VẬT CHỨNG THU GIỮ CỦA HOÀNG VĂN T BẮT NGÀY 03 THÁNG 7 NĂM 2021”, đây là số heroin bắt giữ của bị cáo, là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với điện thoại di động nhãn hiệu OPPO thu giữ của bị cáo: Chiếc điện thoại này bị cáo sử dụng để liên hệ với Lương Văn H thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu phát mại nộp ngân sách Nhà nước.
Đối với vật chứng thu giữ của Lương Văn H gồm: 01 xe ô tô nhãn hiệu Ford Ranger, màu đen, biển kiểm soát 11C-056.xx và một số giấy tờ thu giữ trong xe ô tô mang tên Lương Văn H; 01 điện thoại di động, màu đen, nhãn hiệu NOKIA, thu giữ trong xe ô tô nhãn hiệu Ford Ranger, biển kiểm soát 11C-056.xx; 01 chiếc dép cao su màu đen; số tiền 209.750.000 đồng được tách theo hồ sơ vụ án vào bảo quản theo quy định để phục vụ công tác điều tra sau này.
. Về nghĩa vụ chịu án phí: Bị cáo Hoàng Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
. Về các vấn đề khác:
Về nguồn gốc ma túy T khai nhận được Lương Văn H đưa để mang đi bán cho người Trung Quốc, Lương Văn H đã bị khởi tố về hành vi mua bán trái phép chất ma túy. Tuy nhiên, qua điều tra H không có mặt tại địa phương nên cơ quan điều tra đã Quyết định truy nã và tách hành vi của Lương Văn H để xử lý trong một vụ án khác,
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố:
Bị cáo Hoàng Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm b khoản 4 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58 Bộ luật Hình sự xử phạt Hoàng Văn T tù Chung thân.
Thời hạn chấp hành án phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam ngày 03/7/2021.
2. Việc xử lý vật chứng:
Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Xử tịch thu, tiêu hủy:
01 (một) hộp cát tông niêm phong theo quy định, mặt trước ghi:
“VẬT CHỨNG THU GIỮ CỦA HOÀNG VĂN T BẮT NGÀY 03 THÁNG 7 NĂM 2021”.
Xử tịch thu phát mại nộp ngân sách Nhà nước:
01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màn hình cảm ứng. Máy đã qua sử dụng, có số IMEI: 865545053379598.
Trong máy lắp các sim số 0386.937.265 và 0378.973.212.
Xác nhận toàn bộ các vật chứng nêu trên đã được chuyển giao cho Cục Thi hành án dân sự tỉnh Cao Bằng theo Biên bản giao nhận vật chứng số 12 ngày 13 tháng 10 năm 2021.
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Hoàng Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) nộp vào ngân sách Nhà nước.
4. Về quyền kháng cáo:
Bị cáo Hoàng Văn T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - VKSND cấp cao tại Hà Nội; - VKSND tỉnh Cao Bằng; - Cơ quan Cảnh sát điều tra; - Cục THADS tỉnh Cao Bằng. - Phòng hồ sơ Công an tỉnh CB; - Phòng KTNV&THA; - Sở Tư pháp CB; - Trại tạm giam; - Bị cáo, người bào chữa; - Lưu HS vụ án; - Lưu toà HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lưu Thu Giang |