vanban.org

Bản án 15/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Trạm Tấu, tỉnh Yên Bái Tuyên án 15/09/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tội danh: Tuyên bố bị cáo Lý Thị Tr phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Tuyên bố bị cáo Cầm Ngọc Th phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Điều lu t áp dụng và hình phạt: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lý Thị Tr và đồng phạm - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tội danh: Tuyên bố bị cáo Lý Thị Tr phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 15 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRẠM TẤU
TỈNH YÊN BÁI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:15/2022/HS-ST
Ngày: 15-9-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẠM TẤU, TỈNH YÊN BÁI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Xuân.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Bùi Hồng Anh;

2. Ông Hà Minh Tiến.

Thư ký phiên toà: Bà Lù Thị Minh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trạm Tấu, tỉnh Yên Bái.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trạm Tấu tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị Nghĩa - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 9 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trạm Tấu, tỉnh Yên Bái. Tòa án nhân dân huyện Trạm Tấu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 13/2022/TLST-HS ngày 23 tháng 8 năm 2022 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2022/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 8 năm 2022 đối với các bị cáo:

1. Lý Thị Tr, sinh ngày 02 tháng 9 năm 1993 tại xã N, huyện M, tỉnh Yên Bái; nơi cư trú thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Yên Bái; nghề nghiệp làm ruộng; trình độ văn hóa không biết chữ; dân tộc Mông; tôn giáo không; giới tính nữ; quốc tịch Việt Nam; con ông Lý A P, sinh năm 1959 và bà Giàng Thị L, sinh năm 1964; có chồng là Hảng A S và có 02 con; tiền án không; tiền sự không; bị tạm giữ từ ngày 12 tháng 5 năm 2022; tạm giam ngày 15 tháng 5 năm 2022; “Có mặt”.

2. Cầm Ngọc Th, sinh ngày 01 tháng 5 năm 1968 tại xã H, thị xã N, tỉnh Yên Bái; nơi cư trú B, xã H, thị xã N, tỉnh Yên Bái; nghề nghiệp làm ruộng; trình độ văn hóa 3/12; dân tộc Thái; tôn giáo không; giới tính nam; quốc tịch Việt Nam; con ông Cầm Ngọc L (đã chết) và bà Hoàng Thị P, sinh năm 1923; có vợ là Đinh Thị K và có 01 con; tiền án không; tiền sự không; bị tạm giữ từ ngày 12 tháng 5 năm 2022; tạm giam ngày 15 tháng 5 năm 2022; “Có mặt”.

- Người bào chữa cho các bị cáo Lý Thị Tr và Cầm Ngọc Th: Ông Nông Đức T và ông Đinh Gia H - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Yên Bái; “Có mặt”.

- Người tham gia tố tụng khác.

+ Người làm chứng: Hà Văn N, sinh ngày 15 tháng 5 năm 2006; nơi cư trú xã H, thị xã N. tỉnh Yên Bái; “V ng mặt”.

+ Người chứng kiến: Hoàng Thị T, sinh năm 1977; nơi cư trú bản Đ, xã N, thị xã N, tỉnh Yên Bái; “V ng mặt”.

+ Người phiên dịch tiếng Mông: Ông Mùa A Làng - Cán bộ Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Trạm Tấu, tỉnh Yên Bái; “Có mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm t t như sau:

Tối ngày 11/5/2022, Cầm Ngọc Th thuê Hà Văn N trở xe máy lên khu vực thôn L, xã T, huyện T để tìm mua ma túy, sử dụng cho bản thân. Khi đi đến thôn L, xã T, Th bảo N dừng xe đợi, Th vào nhà Lý Thị Tr hỏi mua ma túy. Do trước tết Tr đã mua ma túy của một người phụ nữ dân tộc Thái, không quen biết về để làm thuốc cho gà, còn một ít chưa sử dụng hết nên đã bán cho Th số còn lại, với giá 300.000 đồng. Th cất gói ma túy vào túi nilon của bao thuốc lá và cho vào túi quần bên phải đang mặc rồi đi ra bảo N trở về. Khi đang trên đường về, chưa ra khỏi địa ph n thôn L, xã T thì bị Công an xã T phát hiện, b t quả tang.

Tại bản kết lu n giám định số: 251/KL-PC09 ngày 18/5/2022 của phòng kỹ thu t hình sự Công an tỉnh Yên Bái, kết lu n:

- Chất bột nén màu tr ng thu giữ của Cầm Ngọc Th có khối lượng là: 0,27 (không phảy hai mươi bảy) gam; 0,09 gam trích từ 0,27 gam chất bột nén màu tr ng gửi giám định là ma túy; loại Heroine.

Heroine nằm trong Danh mục I, STT: 9, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15-5-2018 của Chính phủ.

Bản cáo trạng số: 13/CT-VKS-TT ngày 23 tháng 8 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh Yên Bái đã truy tố bị cáo Lý Thị Tr, về tội: "Mua bán trái phép chất ma tuý", theo khoản 1 Điều 251 Bộ lu t Hình sự; bị cáo Cầm Ngọc Th về tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy", theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ lu t Hình sự.

Tại phiên tòa các bị cáo khai nh n toàn bộ hành vi mua bán, tàng trữ ma túy mình đã thực hiện. Bị cáo Th, bị cáo Tr đề nghị được miễn án phí và xin lại số tiền bị tạm giữ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trạm Tấu thực hiện quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lý Thị Tr, phạm tội: "Mua bán trái phép chất ma tuý; bị cáo Cầm Ngọc Th phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy",

Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ lu t Hình sự.

Xử phạt bị cáo Lý Thị Tr từ 02 (hai) năm 03 (ba) tháng đến 02 (hai) năm 09 (ch n) tháng tù;

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ lu t Hình sự

Xử phạt bị cáo Cầm Ngọc Th 01 (một) năm 03 (ba) tháng đến 01 (một) năm 09 (ch n) tháng t .

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

V t chứng và tài sản bị tạm giữ: Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ lu t Hình sự; khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ lu t Tố tụng hình sự.

+ Tịch thu tiêu hủy: 0,18 (không phảy mười tám) gam Heroine còn lại sau khi lấy mẫu giám định, đã được niêm phong; 03 (ba) vỏ phong bì thư đã mở niêm phong và nilon gói; 01 (một) túi vải màu đen, có 02 ngăn đều có khóa k o, túi có dây đeo màu đen, túi đã cũ đã qua sử dụng.

+ Tịch thu của bị cáo Lý Thị Tr: 300.000 (ba trăm nghìn) đồng.

+ Trả lại bị cáo Lý Thị Tr: 9.255.000 (chín triệu hai trăm năm mươi lăm nghìn) đồng, đã được niêm phong.

+ Trả lại bị cáo Cầm Ngọc Th: 146.000 (một trăm bốn mươi sáu nghìn) đồng, đã được niêm phong.

Án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo.

Các bị cáo không có ý kiến tranh lu n gì.

Người bào chữa trình bày lời bào chữa:

Về tội danh đồng ý với cáo trạng đã truy tố và lu n tội của iểm sát viên; tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, nên được hưởng điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ lu t Hình sự; khi bị b t Cầm Ngọc Th đã chủ động khai ngay với Cơ quan điều tra về người bán chất ma tuý cho mình, việc khai báo của bị cáo đã giúp Cơ quan điều tra phát hiện thêm người phạm tội, đây là tình tiết thể hiện người phạm tội đã tích cực hợp tác với Cơ quan điều tra phát hiện tội phạm trong quá trình giải quyết vụ án, là một tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự quy định tại điểm t khoản 1 Điều 51 của Bộ lu t Hình sự. Bị cáo Tr và bị cáo Th là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn, nh n thức pháp lu t còn hạn chế; các bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; khối lượng ma túy mua bán, tàng trữ ít đã kịp thời thu hồi, chưa phát tán ra xã hội; gia đình bị cáo Th thuộc diện hộ nghèo, bị cáo Tr không có tài sản riêng, gia đình không có tài sản gì có giá trị lớn.

Trên cở sở phân tích trên đề nghị Hội đồng xét xử:

p dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 50 của Bộ lu t Hình sự. Xử phạt bị cáo Lý Thị Tr từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù;

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s, điểm t khoản 1 Điều 51 và Điều 50 của Bộ lu t Hình sự. Xử phạt bị cáo Cầm Ngọc Th 01 (một) năm đến 01 (một) năm 03 (ba) tháng t .

- Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

- V t chứng, tài sản tạm giữ: Nhất trí với đề nghị của Kiểm sát viên.

- n phí: Đề nghị miễn án phí cho bị cáo Tr và bị cáo Th.

Các bị cáo không có ý kiến tranh lu n bổ sung gì.

kiến iểm sát viên: Khi Th bị b t quả tang là Th đang đi c ng N, trong trường hợp Th không khai ra Tr là người bán ma tuý cho Th, thì từ N cơ quan điều tra cũng biết được Th mua ma tuý của Tr; việc Th khai ra Tr, iểm sát viên cũng đã đề nghị cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nh là thành khẩn khai báo, nên iểm sát viên không đồng ý với người bào chữa là cho bị cáo Th được hưởng thêm tình tiết giảm nh quy định tại điểm t khoản 1 Điều 51 của Bộ lu t Hình sự.

kiến của người bào chữa: Tại Toà án tỉnh Yên Bái đã áp dụng vụ án có tình tiết tương tự và cho bị cáo được hưởng tình tiết người phạm tội đã tích cực hợp tác với Cơ quan điều tra phát hiện tội phạm trong quá trình giải quyết vụ án. Trên thực tế nhiều vụ án bị cáo chỉ khai đã mua ma tuý của người không quen biết, nên cơ quan điều tra cũng không có cơ sở điều tra để xử lý. Trong trường hợp không cho bị cáo Th hưởng tình tiết này s gây bất lợi cho bị cáo, là không có sự thống nhất trong áp dụng pháp lu t trong tỉnh Yên Bái và không động viên, khích lệ nhân dân trong việc đấu tranh, tố giác tội phạm.

kiến iểm sát viên: Giữ nguyên quan điểm đã đề nghị.

Lời nói sau cùng của các bị cáo: Các bị cáo nh n thức được hành vi của mình là sai, là vi phạm pháp lu t, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nh hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ, đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nh n thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Trạm Tấu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trạm Tấu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ lu t tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Người bào chữa, các bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai tại phiên toà của các bị cáo phù hợp với biên bản b t người phạm tội quả tang, kết lu n giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Vì v y, đã có đủ cơ sở kết lu n:

Tối ngày 11/5/2022 tại nhà riêng thuộc thôn L, xã T, huyện T, ý Thị Tr bán cho Cầm Ngọc Th 0,27 gam Heroine, với giá 300.000 đồng. hi Cầm Ngọc Th trên đường về, chưa ra khỏi địa ph n thôn L thì bị Công an xã T b t quả tang đang tàng trữ 0,27 gam Heroine được gói bằng mảnh nilon màu xanh, bên ngoài có túi nilon màu tr ng, được để trong túi quần bên phải của Th đang mặc.

Các bị cáo Lý Thị Tr và Cầm Ngọc Th là những người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Các bị cáo nh n thức rõ việc mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy (Heroine) là vi phạm lu t hình sự và biết được tác hại của ma túy đối với sức khỏe con người và đời sống xã hội. Bị cáo Tr do vụ lợi nên đã cố ý thực hiện, nhằm mục đích thu lời bất chính; bị cáo Th cố ý thực hiện, nhằm thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy trái pháp lu t của bản thân. hối lượng ma tuý Cầm Ngọc Th tàng trữ đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm.

Hành vi mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy mà các bị cáo thực hiện đã xâm phạm trực tiếp đến chính sách phòng, chống và kiểm soát ma túy của Nhà nước; tiếp tay cho tệ nạn ma túy gia tăng; ảnh hưởng đến sức khỏe con người; là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác và xâm hại tr t tự an toàn xã hội.

Từ những nh n định trên đã có đủ căn cứ để khẳng định hành vi của bị cáo Lý Thị Tr phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy" theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ lu t Hình sự; bị cáo Cầm Ngọc Th phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ lu t Hình sự.

Nhân thân: Bị cáo Lý Thị Tr trước khi phạm tội chưa có tiền án, tiền sự, nên xác định bị cáo Tr là người có nhân thân không xấu tại địa phương.

Bị cáo Cầm Ngọc Th là người thường xuyên sử dụng trái phép chất ma túy, nên xác định bị cáo là người có nhân thân xấu tại địa phương.

Tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, đây là tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ lu t Hình sự; các bị cáo c ng được hưởng.

Ngay sau khi bị b t Cầm Ngọc Th đã chủ động khai với Cơ quan điều tra về người bán chất ma tuý cho mình, việc khai báo của bị cáo đã giúp Cơ quan điều tra phát hiện thêm người phạm tội, đây là tình tiết người phạm tội tích cực hợp tác với Cơ quan điều tra phát hiện tội phạm, là tình tiết giảm nh được quy định tại điểm t khoản 1 Điều 51 của Bộ lu t Hình sự, bị cáo Th được hưởng; lời bào chữa của người bào chữa là có căn cứ, nên cần được chấp nh n.

Căn cứ vào quy định của Bộ lu t Hình sự, tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, khối lượng ma tuý các bị cáo mua bán, tàng trữ, nhân thân và tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự của các bị cáo như đã phân tích ở trên, cần áp dụng hình phạt tù, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để giáo dục riêng các bị cáo, đồng thời răn đe và phòng ngừa chung.

Hình phạt bổ sung: Bị cáo Th gia đình thuộc diện hộ ngh o, không có tài sản có giá trị, kinh tế gia đình khó khăn; không có thu nh p ổn định. Nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Thạo.

Bị cáo Tr phạm tội với mục đích lợi nhu n, tại biên bản khám x t Cơ quan điều tra cũng đã thu giữ của bị cáo 9.255.000 đồng và tại phiên toà xác định gia đình bị cáo có một con trâu, một con bò và 01 xe mô tô, nên Hội đồng áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

V t chứng và tài sản tạm giữ:

Đối với: 0,18 (không phảy mười tám) gam Heroine còn lại sau khi lấy mẫu giám định. Đây là v t Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành, nên tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ lu t Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ lu t Tố tụng hình sự.

- 03 (ba) vỏ phong bì đã mở niêm phong và nilon gói; 01 (một) chiếc túi vải màu đen, có 02 ngăn đều có khóa k o, có dây đeo. Các mảnh nilon gói và chiếc túi vải, các bị cáo đã sử dụng để tàng trữ ma túy, nên cần tịch thu tiêu hủy, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ lu t Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ lu t Tố tụng hình sự; 03 (ba) vỏ phong bì Cơ quan điều tra sử dụng để niêm phong v t chứng, xét không có giá trị, nên cần tịch thu tiêu hủy, theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ lu t Tố tụng hình sự.

- 9.555.000 (ch n triệu năm trăm năm mươi lăm nghìn) đồng thu giữ của Lý Thị Tr. Trong đó 300.000 đồng là tiền do bị cáo Tr bán ma túy mà có, nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 47 bộ lu t Hình sự và điểm b khoản 2 Điều 106 bộ lu t Tố tụng hình sự. Đối với số tiền 9.255.000 đồng là tiền của bị cáo, không liên quan đến tội phạm, nên trả số tiền cho bị cáo Tr theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ lu t Tố tụng hình sự.

- 146.000 (một trăm bốn mươi sáu nghìn) đồng thu giữ của Cầm Ngọc Th là tiền của bị cáo, không liên quan đến tội phạm, nên trả số tiền cho bị cáo Th theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ lu t Tố tụng hình sự.

Án phí và các vấn đề khác:

Bị cáo Lý Thị Tr là người dân tộc thiểu số, sống ở xã có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn, bị cáo Th thuộc diện hộ ngh o; các bị cáo có đề nghị được miễn án phí. Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 6 Điều 15 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, miễn án phí cho các bị cáo.

Các bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp lu t.

Đối với người phụ nữ dân tộc Thái là người Lý Thị Tr khai đã bán Heroine cho Tr. Cơ quan điều tra không xác minh được, nên không có căn cứ để xử lý.

Đối với Hà Văn N là người đã được Th thuê trở xe máy đi để mua Heroine, qua quá trình điều tra xác định N không biết Th đi tìm mua Heroine và Th cũng không nói cho N biết là đi đâu, nên Hà Văn N không phạm tội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tội danh: Tuyên bố bị cáo Lý Thị Tr phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Tuyên bố bị cáo Cầm Ngọc Th phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Điều lu t áp dụng và hình phạt:

- Áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ lu t Hình sự

Xử phạt bị cáo Lý Thị Tr 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ bị cáo, là ngày 12/5/2022.

hạt bị cáo Lý Thị Tr 5.000.000 (năm triệu) đồng.

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s, điểm t khoản 1 Điều 51 của Bộ lu t Hình sự.

Xử phạt bị cáo Cầm Ngọc Th 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ bị cáo, là ngày 12/5/2022.

3. V t chứng và tài sản tạm giữ: Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ lu t Hình sự; khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ lu t Tố tụng hình sự.

+ Tịch thu tiêu hủy: 0,18 (không phảy mười tám) gam Heroine còn lại sau khi lấy mẫu giám định, đã được niêm phong; 03 (ba) vỏ phong bì thư đã mở niêm phong và nilon gói; 01 (một) túi vải màu đen, có 02 ngăn đều có khóa kéo, túi có dây đeo màu đen, túi đã cũ đã qua sử dụng.

+ Tịch thu của bị cáo Lý Thị Tr: 300.000 (ba trăm nghìn) đồng.

+ Trả lại bị cáo Lý Thị Tr: 9.255.000 (chín triệu hai trăm năm mươi lăm nghìn) đồng, đã được niêm phong.

+ Trả lại bị cáo Cầm Ngọc Th: 146.000 (một trăm bốn mươi sáu nghìn) đồng, đã được niêm phong.

(đặc điểm của vật chứng và tài sản như mô tả tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 23/8/2022 giữa Cơ quan cảnh sát điều Công an huyện Trạm Tấu và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tram Tấu)

4. n phí: p dụng điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Các bị cáo Lý Thị Tr và Cầm Ngọc Th được miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: p dụng Điều 331 và Điều 333 của Bộ lu t Tố tụng hình sự. Các bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ