- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Hữu Đ với số tiền 5.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 15/2022/HS-ST Ngày: 11-3-2022 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Chung.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Thả;
Ông Lê Xuân Cúc.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phú, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Trung Thành – Kiểm sát viên.
Trong ngày 11 tháng 3 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 12/2022/TLST-HS ngày 17 tháng 02 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2022/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 02 năm 2022 đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Hữu Đ, sinh năm 1992 tại tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú: Ấp T, xã P, huyện C, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Cao Đài; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hữu Phước và bà Hoàng Thị Sửu; tiền án: Tại Bản án số 91/2019/HS-ST ngày 06/11/2019 của Toà án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh, căn cứ khoản 1 Điều 318; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo 06 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”, chấp hành xong hình phạt ngày 24/6/2020; tiền sự: Không có; nhân thân: Ngày 13/10/2021, bị Công an xã Tân Phú, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh xử phạt 750.000 đồng về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy; bị cáo tại ngoại (có mặt).
2. Nguyễn Duy H (Bờm), sinh năm 1990 tại tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú: Ấp T, xã P, huyện C, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Làm rẫy; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Duy Bừng (chết) và bà Nguyễn Thị Thanh (chết); tiền án: Không có; tiền sự: Ngày 05/3/2020, bị Công an xã Tân Phú, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh xử phạt 750.000 đồng về hành vi Sử dụng trái phép chất ma tuý; nhân thân: Ngày 03/7/2018, bị TAND huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 15 tháng, nhưng đến ngày 22/10/2018, có Quyết định về việc tạm đình chỉ thi hành Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Ngày 02/8/2018, bị TAND huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án hình sự sơ thẩm số 14/2018/HS-ST, chấp hành xong hình phạt tù ngày 29/8/2019 (đã được xoá án tích); bị cáo tại ngoại (có mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Dƣơng Thanh H, sinh năm 2000; địa chỉ: Ấp C, xã P, huyện C, tỉnh Tây Ninh (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Đ là người nghiện ma túy, nhưng bị cách ly tập trung do nhiễm Covid- 19, tại trường Trung học cơ sở Tân Hưng, thuộc ấp Tân Tây, xã Tân Hưng, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh. Để có ma túy sử dụng, khoảng 11 giờ, ngày 28/9/2021, Đ điện thoại cho Đinh Thị Ngọc T, sinh năm: 1990, ngụ: ấp Tân Hòa, xã Tân Phú, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh, hỏi mua thiếu của T 1.000.000 đồng ma túy, T đồng ý bán. Sau đó, Đ điện thoại kêu H nhờ mua cho Đ 05 gói mì ăn liền, 06 chai nước ngọt và đến nhà T lấy ma tuý mang đến cơ sở cách ly cho Đ sử dụng. H điều khiển xe mô tô biển số 70F5- 9946 đến trước nhà T, thì điện thoại nói cho Đ biết để Đ kêu T mang ma túy đưa cho H. Sau khi nhận được một bịch ma túy tổng hợp do T đưa, H dùng lưỡi lam rạch một đường khoảng 02 cm trên một gói mì ăn liền mua trước đó rồi cất giấu bịch ma túy vào bên trong. Đến khoảng 13 giờ cùng ngày, H mang ma tuý, mì ăn liền, nước ngọt đến khu cách ly tập trung Covid- 19 tại trường Trung học cơ sở Tân Hưng đưa cho Đ, thì bị lực lượng Công an xã Tân Hưng kiểm tra, phát hiện H có hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý, nên tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với H cùng tang vật.
Tại Kết luận giám định số 1261/KL-KTHS, ngày 29/9/2021, của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh, kết luận: Mẫu tinh thể rắn màu trắng bên trong 01 (một) bịch nylon được hàn kín (ký hiệu M) gửi đến giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,7052 gam.
Tại Kết luận giám định số 1551/KL-KTHS, ngày 15/12/2021, của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh, kết luận: 01 tờ tiền Việt Nam đồng (Polyme) mệnh giá 500.000 có số sê ri: FX16433535 cần giám định là tiền thật.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh Nguyễn Hữu Đ, H đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Tại bản Cáo trạng số 10/CT-VKSTC ngày 09/02/2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh đã truy tố các bị cáo Nguyễn Hữu Đ, H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Nguyễn Hữu Đ, Nguyễn Duy H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu Đ từ 15 tháng tù đến 18 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo Nguyễn Duy H từ 12 tháng tù đến 15 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Đề nghị áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị Hội đồng xét xử: Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định, trả cho bị cáo H 500.000 đồng, trả cho anh H xe mô tô biển số 70F5-9946, tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước điện thoại di động hiệu Samsung của bị cáo H.
Các bị cáo không tranh luận.
Các bị cáo nói lời nói sau cùng: Các bị cáo đã biết sai, xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh, của Điều tra viên, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh, của Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi của bị cáo thể hiện: Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Hữu Đ và Nguyễn Duy H đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ do Cơ quan điều tra thu thập có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ căn cứ xác định: Vào lúc 13 giờ ngày 28/9/2021, tại trường Trung học cơ sở Tân Hưng, thuộc Tổ 7, ấp Tân Tây, xã Tân Hưng, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh, các bị cáo đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, loại Methamphetamine với khối lượng 0,7052 gam để sử dụng thì bị lực lượng Công an kiểm tra bắt quả tang cùng tang vật. Do đó, đã có đủ cơ sở kết luận các bị cáo Đ, H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự như luận tội của vị Kiểm sát viên tại phiên tòa.
[3] Vụ án có tính chất nghiêm trọng; hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã vi phạm Điều 3 của Luật phòng chống ma túy, trực tiếp xâm phạm đến sự độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn tại địa phương. Ma túy là hiểm họa của xã hội, làm lây lan các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm, làm suy đồi, băng hoại một bộ phận dân cư, đặc biệt là thanh thiếu niên, gây ảnh hưởng xấu đến sự phát triển giống nòi dân tộc. Hiện nay, tệ nạn ma túy đang là vấn đề hết sức phức tạp, nhức nhối của xã hội, tiêu tốn nhiều tiền của, công sức của Nhà nước để giải quyết những hậu quả của tệ nạn này. Khi thực hiện tội phạm các bị cáo biết rõ việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vì thỏa mãn nhu cầu cá nhân mà các bị cáo vẫn cố tình thực hiện. Do đó, các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự do chính hành vi của mình gây ra và cần xử lý nghiêm.
Khi quyết định hình phạt cũng cần xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự cho các bị cáo.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Đ tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo H không có.
Trong vụ án này các bị cáo phạm tội trong trường hợp đồng phạm giản đơn, không có sự cấu kết chặt chẽ. Trong đó, bị cáo Đ là người khởi xướng, nhờ vả bị cáo H giúp mang ma túy cho mình sử dụng, có vai trò chính nên chịu trách nhiệm hình sự cao hơn bị cáo H. Bị cáo H nhận lời nhờ vả của bị cáo Đ, lấy ma túy, mang ma túy cho bị cáo Đ sử dụng, không được hưởng lợi gì, có vai trò thấp hơn bị cáo Đ nên chịu trách nhiệm hình sự thấp hơn bị cáo Đ.
Xét thấy, bị cáo Đ phạm tội trong trường hợp tái phạm, bị cáo H có nhân thân xấu nên với hành vi phạm tội như trên của các bị cáo cần xử phạt tù, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ điều kiện cải tạo, giáo dục các bị cáo thành người có ích cho xã hội, đồng thời có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Cần phạt bổ sung mỗi bị cáo số tiền 5.000.000 đồng theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 bì thư được niêm phong có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Văn Nguyện, Trợ lý giám định Nguyễn Hoàng Chi Mai và dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh, bên trong có 01 bịch nylon chứa tinh thể rắn màu trắng (ký hiệu M) là Methamphetamine có khối lượng 0,5138 gam là ma túy cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với xe mô tô biển số 70F5-9946 do bị cáo H mượn của anh H, không liên quan đến tội phạm, cần trả lại cho anh H là phù hợp.
Đối với điện thoại Samsung số imei 1: 2052095 thu giữ của bị cáo H là phương tiện phạm tội cần tịch thu sung vào Ngân sách nhà nước.
Đối với 500.000 đồng thu giữ của bị cáo H không liên quan đến việc phạm tội, cần trả lại cho bị cáo nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Đối với Đinh Thị Ngọc T là người bán ma túy cho bị cáo Đ, hiện đã bỏ đi khỏi địa phương, nên chưa tiến hành làm việc được, khi nào làm việc được xử lý sau.
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu Đ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Hữu Đ với số tiền 5.000.000 (năm triệu) đồng để sung vào Ngân sách nhà nước.
2. Căn cứ vào điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy H (Bờm) 01 (một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Duy H (Bờm) với số tiền 5.000.000 (năm triệu) đồng để sung vào Ngân sách nhà nước.
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
[3.1] Tịch thu tiêu hủy 01 bì thư được niêm phong có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Văn Nguyện, Trợ lý giám định Nguyễn Hoàng Chi Mai và dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh, bên trong có 01 bịch nylon chứa tinh thể rắn màu trắng (ký hiệu M) là ma túy loại Methamphetamine có khối lượng 0,5138 gam.
[3.2] Trả lại cho anh Dương Thanh H xe mô tô biển số 70F5-9946.
[3.3] Tịch thu sung vào Ngân sách nhà nước điện thoại Samsung số imei 1: 2052095 thu giữ của bị cáo Nguyễn Duy H (Bờm).
[3.4] Trả lại cho bị cáo Nguyễn Duy H (Bờm) số tiền 500.000 đồng nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
(Vật chứng đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 17/02/2022).
4. Về án phí: Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Các bị cáo Nguyễn Hữu Đ và Nguyễn Duy H (Bờm) mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
6. Về quyền kháng cáo: Báo cho các bị cáo biết có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh để xét xử phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng anh H có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tây Ninh; - VKSND H.Tân Châu; - CCTHA-DS H. Tân Châu; - CQĐT Công an H. Tân Châu; - Sở Tư pháp tỉnh Tây Ninh; - Công an tỉnh Tây Ninh – Phòng PV 06; - Bị cáo; - Những người tham gia tố tụng khác; - THA phạt tù; - Lưu tập án, hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thành Chung |