vanban.org

Bản án 15/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau Tuyên án 30/06/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Việt C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Việt C 02 (Hai) năm tù. Thời hạn chấp hành chấp hành hình phạt tù t nh từ ngày 12/02/2022. Về xử lý vật chứng: Căn cứ các Điều 46, 47, 48 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Việt C - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Việt C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN N
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2022/HS-ST
Ngày 30 - 6 - 2022

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông u nh Minh T nh

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông à Bảo iền

2. Ông Quách Văn Vệ

- Thư ký phiên tòa: Ông u nh Văn Lợi là Thư ký Tòa án nhân dân huyện N.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N tham gia phiên tòa:

Ông Nguyễn Tấn Đạt - Kiểm sát viên.

Trong ngày 30 tháng 6 năm 2022 tại Tòa án nhân dân huyện N xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 09/2022/TLST-HS, ngày 29 tháng 4 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2022/QĐXXST-HS, ngày 27 tháng 5 năm 2022, đối với bị cáo:

ọ và tên: Nguyễn Việt C, sinh năm 1988, tại huyện N; Tên gọi khác: Không; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: Khóm 1, thị trấn Rạch Gốc, huyện N, tỉnh Cà Mau; ch : Khóm 1, thị trấn Rạch Gốc, huyện N, tỉnh Cà Mau; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; giới t nh: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Việt Trung và bà Nguyễn Linh Út; Vợ Nguyễn Thị Cẩm Linh, sinh năm 1998 (đã ly hôn); Con 01 người sinh năm 2016.

- Tiền án: không.

- Tiền sự: 01 tiền sự. Theo Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành ch nh đưa vào cơ s cai nghiện bắt buộc vào ngày 05/11/2021.

- Ngày 12/02/2022 tạm giữ bị cáo, sau đó chuyển tạm giam cho đến nay.

Bị cáo tạm giam có mặt tại phiên tòa.

- Người làm chứng: Nguyễn ữu S, sinh năm 1986 (Vắng mặt)

Địa chỉ: khóm 4, thị trấn Rạch Gốc, huyện N, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 08 giờ ngày 12/02/2022, Nguyễn Việt C đón xe khách Phát uy (tuyến Đất Mũi - Cà Mau) từ nhà thuộc Khóm 1, thị trấn Rạch Gốc, huyện N, tỉnh Cà Mau đi thành phố Cà Mau để mua ma túy nhằm mục đ ch sử dụng. Đến khoảng hơn 09 giờ cùng ngày C xuống xe tại phường 8, thành phố Cà Mau, C đi bộ vào Xóm Kiếp thuộc phường 8, thành phố Cà Mau để mua ma túy, C gặp một người thanh niên khoảng 30 tuổi (C không quen biết người này, người này có đeo khẩu trang, đội nón kết, không nhận dạng được), C hỏi người thanh niên trên “Có bán ma túy không”, người thanh niên trên hỏi “Lấy bao nhiêu”, C trả lời “Lấy 200.000 đồng”, người thanh niên trên kêu đưa tiền trước, C đưa người thanh niên trên 200.000 đồng, người thanh niên trên kêu C đi một lúc đi rồi quay lại lấy ma túy. Nguyễn Việt C đi được khoảng 50m thì quay lại, lúc này người thanh niên trên chỉ tay xuống lộ kêu C lấy một bịt ma túy (ma túy được bỏ trong bịt nilon màu trắng hàn k n lại). Nguyễn Việt C lấy bịt ma túy đi một đoạn thì vào một căn nhà trống (không có người ), C lấy ma túy vừa mới mua được sử dụng một phần, phần còn lại C dùng hột quẹt hàn k n lại và cầm trên tay. Đến khoảng hơn 10 giờ cùng ngày, C đón xe khách Phú Thịnh từ Cà Mau về Rạch Gốc, khi lên xe C vẫn cầm bịt ma túy trong tay. Đến khoảng hơn 11 giờ cùng ngày khi xe đến Trạm dừng chân Tư Tỵ thuộc khóm Tam iệp, thị trấn Rạch Gốc, huyện N, tỉnh Cà Mau thì bị lực lượng Công an huyện N dừng xe kiểm tra phát hiện C đang cầm ma túy trên tay nên lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với C và tạm giữ các đồ vật, tài liệu liên quan. Qua làm việc C khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.

Tại bản kết luận giám định số: 33/GĐ -PC09 ngày 14/02/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cà Mau kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng bên trong bọc nilon màu trắng được hàn k n, niêm phong trong phong bì hình chữ nhật của Công an huyện N, có chữ ký, chữ viết họ và tên “Nguyễn Việt C”, “ Lê Quốc ội”, “Lê Minh Tiến” và 02 hình dấu tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N, tỉnh Cà Mau gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,1475 gam, loại Methamphetamine. (Methamphetamine là chất ma túy được quy định tại Mục số 323, Danh mục II, Nghị định 73/2018/NĐ - CP ngày 15/5/2018 của Ch nh phủ (Bút lục 29).

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Việt C trình bày: Vào khoảng 11 giờ ngày 12/02/2022 bị cáo có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, loại Methamphetamine sau đó bị Công an phát hiện và bắt giữ quả tang, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội.

Bản Cáo trạng số: 08/CT-VKS ngày 28 tháng 4 năm 2022 Viện kiểm sát nhân dân huyện N truy tố Nguyễn Việt C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố theo toàn bộ nội dung cáo trạng, đánh giá t nh chất mức độ hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo đề nghị ội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Việt C mức án từ 01 năm 06 tháng tù đến 02 năm tù.

Trước khi ội đồng xét xử vào nghị án, bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo xin ội đồng xét xử giảm nhẹ mức án cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ s nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, ội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng trong vụ án, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Căn cứ vào lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa; biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản hiện trường; lời khai của những người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Các tài liệu, chứng cứ hoàn toàn phù hợp và đủ c s kết luận: Vào khoảng 11 giờ ngày 12/02/2022, tại tuyến đường quốc lộ 1A thuộc thị trấn Rạch Gốc, huyện N, bị cáo đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy: Loại Methamphetamine có khối lượng 0,1475 gam nhằm mục đ ch để sử dụng thì bị bắt quả tang. ành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện N truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Vụ án mang t nh chất nghiêm trọng. Bị cáo là người thành niên, có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo nhận thức được chất ma túy là rất độc hại, cấm tàng trữ trái phép, nhưng vì mục đ ch thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy của bản thân, bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. ành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến ch nh sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy. Đồng thời, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, tạo dư luận xấu trong nhân dân và có thể làm phát sinh một số loại tội phạm khác. Do vậy, cần phải xử lý nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ sức răn đe, phòng ngừa các loại tội phạm về ma túy và cũng có điều kiện để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Về tình tiết định khung hình phạt:

Mục đ ch của bị cáo cất giấu ma túy để sử dụng. Số ma túy thu giữ ngày 12/02/2022 được giám định và theo kết luận giám định số: 33/GĐ -PC09 ngày 14/02/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cà Mau có khối lượng 0,1475 gam, loại Methamphetamine, là chất ma túy nằm trong Danh mục II, số 67, Nghị định 82/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của Ch nh phủ. Bị cáo không vi phạm tình tiết định khung tăng nặng khác nên chỉ bị xét xử khoản 1 Điều 249 Bộ luật ình sự năm 2015.

Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo:

- Khi quyết định hình phạt, ội đồng xét xử xem xét bị cáo có nhân thân xấu bị cáo đã bị xử hình sự về tội tàng trữ trái phép chất ma túy đã xóa án t ch và 01 tiền sự chưa được xóa, nhưng bị cáo không biết sửa đổi, tu dưỡng bản thân mà mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, cần có mức án nghiêm tương xứng với t nh chất, mức độ hậu quả hành vi của bị cáo gây ra, nhằm giáo dục bị cáo tr thành công dân sống có ch cho xã hội, biết tuân thủ pháp luật đồng thời có tác dụng giáo dục phòng ngừa chung trong xã hội.

- Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, biết ăn năn hối cải.

Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt ch nh là hình phạt tù, bị cáo còn có thể phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền được quy định tại khoản 2 Điều 35; khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, ội đồng xét xử xét thấy, bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung.

Về xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì màu trắng có dấu niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cà Mau, là tang vật giám định hoàn lại trong vụ tàng trữ trái phép chất ma túy xảy ra ngày 12/02/2022 tại khóm Tam iệp, thị trấn Rạch Gốc, huyện N, tỉnh Cà Mau (Số 33/GĐ -PC09) và 01 lưỡi lam hiệu Bic; 01 quẹt ga màu trắng, t m bên trong có 02 hột x ngầu màu xanh và màu vàng; 02 ống tiêm có kim, loại 01ml/ống, ống màu trắng nắp đậy kim màu cam; 01 gói thuốc là hiệu SEVENDIAMONDS bên trong có 03 điếu thuốc.

Đối với 01 điện thoại di động hiệu Vell-com, màu đen không có liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên trả lại cho bị cáo là phù hợp.

Về án ph : Bị cáo phải chịu án ph hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Việt C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Việt C 02 (Hai) năm tù. Thời hạn chấp hành chấp hành hình phạt tù t nh từ ngày 12/02/2022.

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ các Điều 46, 47, 48 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì màu trắng có dấu niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cà Mau, là tang vật giám định hoàn lại trong vụ tàng trữ trái phép chất ma túy xảy ra ngày 12/02/2022 tại khóm Tam iệp, thị trấn Rạch Gốc, huyện N, tỉnh Cà Mau (Số 33/GĐ -PC09) và 01 lưỡi lam hiệu Bic; 01 quẹt ga màu trắng, t m bên trong có 02 hột x ngầu màu xanh và màu vàng; 02 ống tiêm có kim, loại 01ml/ống, ống màu trắng nắp đậy kim màu cam; 01 gói thuốc là hiệu SEVENDIAMONDS bên trong có 03 điếu thuốc.

Đối với 01 điện thoại di động hiệu Vell-com, màu đen không có liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên trả lại cho bị cáo là phù hợp.

(Số vật chứng nêu trên Chi cục Thi hành án dân sự huyện N đang quản lý, theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 11/7/2022).

4. Về án ph : Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQ 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án ph và lệ ph Tòa án.

Buộc bị cáo Nguyễn Việt C phải chịu 200.000 ( ai trăm nghìn) đồng án ph hình sự sơ thẩm.

Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưởng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ