vanban.org

Bản án 15/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương Tuyên án 24/03/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1 Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; điểm a khoản 1 Điều 55 của Bộ luật hình sự đối với Vũ Trọng K.

2 Điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự đối với Nguyễn Trung H. 3 Điều 17; Điều 58 của Bộ luật hình sự đối với Vũ Trọng K và Nguyễn Trung H trong tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Trọng K cùng đồng phạm - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? 1 Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; điểm a khoản 1 Điều 55 của Bộ luật hình sự đối với Vũ Trọng K.
  • Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 255 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KIM THÀNH
TỈNH HẢI DƯƠNG
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2022/HS-ST
Ngày: 24/3/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM THÀNH, TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Chu Văn Nghĩa.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm văn Toán và bà Nguyễn Thị Thu.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Quốc Cường - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kim Thành.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Thành tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hoa - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 3 năm 2022; Tòa án nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương mở phiên tòa tại trụ sở để xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 14/2022/TLST-HS ngày 01 tháng 3 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2022/QĐXXST-HS ngày 08/3/2022 đối với các bị cáo:

1. VŨ TRỌNG K, sinh năm 1991.

Nơi cư trú: Thôn L, xã K, huyện K, tỉnh Hải Dương.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam.

Trình độ văn hoá: 10/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do.

Bố: Vũ Bình K (đã chết); Mẹ: Hứa Thị L, sinh năm 1962.

Bị cáo là con duy nhất trong gia đình. Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 14/6/2012, Công an huyện Kim Thành tỉnh Hải Dương đã ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 112/QĐ, phạt tiền Vũ Trọng K 500.000đ về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Bị tạm giữ tại Nhà tạm giữ Công an huyện Kim Thành từ ngày 12/9/2021, đến ngày 17/9/2021 áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Kim Thành.

2. NGUYỄN TRUNG H, sinh năm 1992.

Nơi cư trú: Thôn L, xã K, huyện K, tỉnh Hải Dương.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam.

Trình độ văn hoá: 09/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do.

Bố: Nguyễn Xuân H, sinh năm 1972; Mẹ: Lương Thị H, sinh năm 1973. Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ nhất.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị bắt tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Kim Thành từ ngày 07/2/2022 đến nay.

* Người làm chứng:

1. Vũ Ngọc T, sinh năm 1992.

2. Hứa Văn T, sinh năm 1959.

3. Hứa Văn Đ, sinh năm 1970.

(Bị cáo có mặt; những người làm chứng đều vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ 00 ngày 12/9/2021, Vũ Trọng K đang ở nhà tại thôn L, xã K, huyện K, tỉnh Hải Dương thì Nguyễn Trung H và Vũ Ngọc Tuấn ở cùng thôn đến chơi. Khoa bảo H đi mua ma túy về cùng nhau sử dụng rồi đưa cho H số tiền 300.000 đồng. H cầm số tiền trên đi đến khu vực đường tàu thuộc xã Lê Thiện, huyện A, thành phố Hải Phòng mua của một người đàn ông không rõ tên và địa chỉ 01 túi ma túy đá. Sau đó, H cất giấu túi ma túy vừa mua được vào trong người và đem theo 01 chiếc coóng thủy tinh do H tự chế quay về nhà K. Lúc này, H thấy trong nhà K có sẵn 01 chai nhựa, nắp chai đục thủng 02 lỗ, 01 lỗ cắm ống hút nhựa, H cắm chiếc coóng thủy tinh nêu trên vào lỗ còn lại trên nắp chai nhựa tạo thành bộ dụng cụ sử dụng ma túy, sau đó bỏ số ma túy vừa mua được vào coóng thủy tinh rồi K, Tuấn và H cùng nhau sử dụng ma túy. Hồi 13 giờ 30 phút cùng ngày, khi H, Tuấn, Khoa đang sử dụng ma túy tại nhà của K thì lực lượng Công an xã K đến nhà K kiểm tra. Khi thấy lực lượng công an gọi cửa, H đem chiếc coóng thủy tinh chạy vào nhà vệ sinh đập vỡ cho vào bồn cầu và xả nước. Lực lượng Công an xã K đã thu giữ 01 chiếc bật lửa ga và 01 chai nhựa trên nắp chai đục 02 lỗ, trong đó 01 lỗ cắm ống hút nhựa là dụng cụ K, H và Tuấn vừa dùng vào việc sử dụng ma túy đá. Ngoài ra, lực lượng Công an còn thu giữ tại vị trí đầu giường trong phòng ngủ của K 01 túi nilon bên trong có 19 viên nén hình trụ tròn màu hồng và thu giữ ở trong tủ quần áo của K 01 khẩu súng dạng súng săn màu đen (súng hơi nén có ống nhòm), kích thước dài 90cm, rộng 25cm. K khai nhận các viên nén hình trụ tròn màu hồng là ma túy do K mua trước đó 05 ngày ở Hải Phòng của một người tên T (không rõ lai lịch cụ thể) với giá 40.000 đồng/viên mục đích để sử dụng cho bản thân; khẩu súng nêu trên là dạng súng hơi, K dùng để bắn chim.

Tại bản Kết luận giám định số 525/KLGĐ-PC09 ngày 15/9/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hải Dương kết luận: 19 viên nén màu hồng trong túi nilon được niêm phong trong phong bì, gửi đến giám định có tổng khối lượng 1,982 gam, là ma túy loại Methamphetamine. Hoàn lại đối tượng giám định gồm: 1,874 gam Methamphetamine, 01 vỏ túi nilon và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi đến giám định. Đối tượng giám định được hoàn lại trong niêm phong số 525/KLGĐ-PC09.

Kết quả kiểm tra mẫu nước tiểu của Vũ Trọng K, Nguyễn Trung H và Vũ Ngọc T ngày 12/9/2021 đều dương tính với Methamphetamine.

Tại bản Kết luận giám định số 7666/C09-P3 ngày 09/11/2021 của Viện khoa học hình sự - Bộ Công an kết luận: Khẩu súng gửi đến giám định là súng hơi bắn đạn chì cỡ nòng 5,5mm, thuộc súng săn, không phải vũ khí quân dụng. Mẫu vật gửi đến giám định được hoàn trả trực tiếp.

Quá trình điều tra, Vũ Trọng K và Nguyễn Trung H đã thừa nhận hành vi phạm tội.

Trong vụ án này, đối với người bán chất ma tuý cho Vũ Trọng K và Nguyễn Trung H, giai đoạn điều tra không xác định được căn cước, lý lịch nên không có căn cứ để xử lý.

Đối với hành vi tàng trữ trái phép khẩu súng săn, sử dụng trái phép chất ma túy của Vũ Trọng K; hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Nguyễn Trung H và Vũ Ngọc T: Ngày 10/12/2021, Tòa án nhân dân huyện Kim Thành đã ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 28/2021/QĐ-TA đối với H; ngày 11/01/2022, Công an huyện Kim Thành ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 16/QĐ-XPVPHC, số 17/QĐ-XPVPHC đối với K và T; 01 khẩu súng săn đã được giải quyết tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 16/QĐ-XPVPHC.

Tại bản Cáo trạng số 16/CT – VKS ngày 28/02/2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Thành đã truy tố Vũ Trọng K về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự; Nguyễn Trung H về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

* Bị cáo Vũ Trọng K và Nguyễn Trung H đều thừa nhận thực hiện hành vi phạm tội như bản Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Thành giữ nguyên Quyết định truy tố; nêu những chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của các bị cáo, đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, xem xét nhân thân cũng như tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Đề nghị:

- Tuyên bố:

Vũ Trọng K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Nguyễn Trung H phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng:

Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; điểm a khoản 1 Điều 55 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Vũ Trọng K.

Điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Trung H.

Điều 17; Điều 58 của Bộ luật hình sự đối với Vũ Trọng K và Nguyễn Trung H trong tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự. Điểm a, c khoản 2 Điều 106; Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự. Luật phí, lệ phí; Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội đối với cả 02 bị cáo.

- Xử phạt:

+ Vũ Trọng K từ 02 năm 06 tháng đến 02 năm 09 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; từ 08 năm đến 08 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả 2 tội từ 10 năm 06 tháng đến 11 năm 03 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt tạm giữ ngày 12/9/2021.

+ Nguyễn Trung H từ 07 năm 03 tháng đến 07 năm 09 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 07/02/2022.

- Hình phạt bổ sung: Do các bị cáo đều không có công việc, thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo K và khoản 5 Điều 255 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo K, H.

- Xử lý vật chứng: Tịch thu cho tiêu hủy: 01 chai nhựa gắn ống hút nhựa màu trắng; 01 bật lửa ga và 1,874gam ma túy loại Methamphetamine; 01 vỏ túi nilon, 01 vỏ phong bì được niêm phong mẫu vật gửi đến giám định trong niêm phong số 525/KLGĐ-PC09 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hải Dương.

Cả hai bị cáo đều phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra, Điều tra viên Công an huyện Kim Thành; Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Thành, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc kH nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, có đủ căn cứ xác định các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Căn cứ xác định hành vi phạm tội của các bị cáo:

Tại phiên tòa cả hai bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội, những lời khai này phù hợp với lời khai của các bị cáo tại giai đoạn điều tra, phù hợp với lời khai của những người làm chứng và những tài liệu, chứng cứ khác do Cơ quan cảnh sát điều tra đã thu thập.

Đã có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 13 giờ ngày 12/9/2021, tại chỗ ở của Vũ Trọng K thuộc thôn L, xã K, huyện K, tỉnh Hải Dương; Vũ Trọng K có hành vi cung cấp tiền, phân công Nguyễn Trung H đi mua chất ma túy và chuẩn bị địa điểm để sử dụng ma túy. Nguyễn Trung H là người trực tiếp đi mua ma túy và chuẩn bị dụng cụ sử dụng ma túy rồi cùng K, H và Vũ Ngọc T sử dụng trái phép chất ma túy. Vũ Trọng K còn có hành vi cất giấu trái phép tại chỗ ở của mình 1,982 gam ma túy loại Methamphetamine mục đích để sử dụng.

Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương đã truy tố Vũ Trọng K về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự; Nguyễn Trung H về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự.

Vị trí, vai trò của các bị cáo trong quá trình thực hiện hành vi phạm tội:

Trong vụ án này, hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của Vũ Trọng K cấu thành tội phạm độc lập.

Hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy mà Vũ Trọng K, Nguyễn Trung H đã thực hiện có yếu tố đồng phạm. Vũ Trọng K là người điều hành Nguyễn Trung H đi mua ma túy và cung cấp địa điểm để thực hiện việc sử dụng trái phép chất ma túy nên giữ vai trò chính; H là người đi mua ma túy theo sự điều hành của Khoa và là người chuẩn bị dụng cụ để thực hiện việc sử dụng trái phép chất ma túy nên là đồng phạm với vai trò là người thực hành tích cực.

Đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội:

Hành vi phạm tội của các bị cáo đã thực hiện gây nguy hiểm cho xã hội và làm mất an ninh trật tự tại địa phương. Các bị cáo đều là đối tượng sử dụng ma tuý, bị cáo K nhân thân đã 01 lần bị xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, nhưng bị cáo không những tu dưỡng để trở thành người công dân có ích cho gia đình, xã hội mà lại tiếp tục thực hiện 02 tội phạm về ma túy. Bị cáo nhận thức rõ hành vi phạm tội của mình là nguy hiểm cho xã hội, nhưng vẫn cố ý tiếp tay cho một tệ nạn xã hội nguy hiểm mà nhà nước và nhân dân ta đang tích cực đấu tranh, bài trừ. Do vậy cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc đối với các bị cáo mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật và mang tính răn đe, phòng ngừa đối với loại tội phạm này.

Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Cả 02 bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Tại giai đoạn điều tra cũng như tại phiên toà các bị cáo đều có thái độ khai báo thành khẩn nên đều được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Hình phạt bổ sung: Do các bị cáo đều không có công việc, thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 249 đối với bị cáo K và khoản 5 Điều 255 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo K, H.

Xử lý vật chứng:

Cơ quan giám định hoàn lại 01 chai nhựa gắn ống hút nhựa màu trắng; 01 bật lửa và 1,874gam ma túy loại Methamphetamine; 01 vỏ túi nilon; 01 vỏ phong bì được niêm phong trong phong bì số 525/KLGĐ-PC09 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hải Dương. Đây là những vật chứng thu giữ trong vụ án; chất ma túy thuộc loại nhà nước cấm lưu hành, các vật chứng còn lại là công cụ phạm tội không còn giá trị sử dụng nên cho tịch thu tiêu hủy.

Án phí: Cả hai bị cáo đều phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ vào:

1.1 Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; điểm a khoản 1 Điều 55 của Bộ luật hình sự đối với Vũ Trọng K.

1.2 Điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự đối với Nguyễn Trung H.

1.3 Điều 17; Điều 58 của Bộ luật hình sự đối với Vũ Trọng K và Nguyễn Trung H trong tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

1.4 Điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự. Điểm a, c khoản 2 Điều 106; Điều 136; Điều 331; 333 của Bộ luật tố tụng hình sự. Luật phí, lệ phí. Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội đối với cả 02 bị cáo.

2. Tuyên bố:

2.1 Vũ Trọng K phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”

2.2 Nguyễn Trung H phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

3. Áp dụng hình phạt chính:

3.1 Xử phạt bị cáo Vũ Trọng K 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; 08 (tám) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả 2 tội là 10 (mười) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày tạm giữ ngày 12/9/2021.

3.2 Xử phạt bị cáo Nguyễn Trung H 07 (bẩy) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 07/02/2022.

4. Xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy 01 chai nhựa gắn ống hút nhựa màu trắng; 01 bật lửa ga và 1,874gam ma túy loại Methamphetamine; 01 vỏ túi nilon; 01 vỏ phong bì được niêm phong trong phong bì số 525/KLGĐ-PC09 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hải Dương.

(Số lượng, đặc điểm, tình trạng vật chứng theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 03/3/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Kim Thành).

- Án phí: Vũ Trọng K và Nguyễn Trung H mỗi bị cáo đều phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

- Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, có mặt các bị cáo; đã báo cho các bị cáo biết được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ