- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án Lê Đức O phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ su…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Đức O phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ TỈNH LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 15/2022/HS-ST Ngày: 24-01-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thanh Long
Các Hội thẩm nhân dân: - Ông K’ Bửu
- Bà Huỳnh Ngọc Anh
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tấn – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Non - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đ xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 08/2022/TLST-HS ngày 11 tháng 01 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2022/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 01 năm 2022 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê Đức O, sinh năm 1979; nơi sinh: Nghệ An; nơi ĐKNKTT: Thôn Đ T Đông, xã Đ T, huyện K C, tỉnh Hưng Yên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lê Đức Quang, sinh năm 1943; con bà: Nguyễn Thị Hưởng, sinh năm 1944; gia đình có 06 chị em, lớn nhất sinh năm 1966, nhỏ nhất sinh năm 1984; vợ: Vũ Thị Hằng, sinh năm 1978 (đã ly hôn); con: có 02 con, sinh năm 2001 và 2008; tiền sự: không; Tiền án: Ngày 06/6/2018 bị Tòa án nhân dân huyện Đơn Dương xử phạt 30 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Đến ngày 18/01/2020 bị cáo chấp hành xong hình phạt; Nhân thân: Ngày 11/7/2016 bị Công an huyện Đơn Dương xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, bị cáo đã nộp phạt và ngày 31/5/2017 bị Công an huyện Đơn Dương xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, bị cáo đã nộp phạt; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/9/2021 đến nay, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ công an huyện Đ. Có mặt
* Người làm chứng: Ông Phạm Văn Th, sinh năm 2002
Trú tại: Thôn Tân Trung, xã T H, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 13 giờ 00 phút ngày 07/9/2021, nghi vấn có phạm tội về ma túy, Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an huyện Đ phối hợp cùng Công an thị trấn L N, huyện Đ tiến hành kiểm tra hành chính Lê Đức O khi đang điều khiển xe mô tô biển số 49N5-0880 đến trước số nhà 31 Mai Hắc Đế, thị trấn L N, huyện Đ. Qua kiểm tra Công an phát hiện trong chiếc ví màu đen để ở cạp quần phía trước của O có 1 gói nylon chứa chất màu trắng nghi là ma túy. Cơ quan Công an đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Lê Đức O và niêm phong tang vật thu giữ được theo quy định của pháp luật. Tiếp đó, Công an huyện Đ đã tiến hành khám xét chỗ ở của O tại phòng trọ số 05 số nhà 65, Sư Vạn Hạnh, thị trấn L N, huyện Đ thì phát hiện trong túi áo khoác của O để trên gác lửng có 01 gói nylon màu đen bên trong có 03 gói nylon màu trắng chứa chất tinh thể màu trắng nghi là ma túy, 01 bình nhựa có gắn ống thủy tinh và ống nhựa. Quá trình điều tra, Lê Đức O khai nhận 04 gói nylon bị thu giữ là ma túy của O mua của một người tên “Hải” không rõ lai lịch để sử dụng cho bản thân.
* Kết luận giám định số 1219/GĐ-PC09 ngày 13/9/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lâm Đồng kết luận: Mẫu tinh thể đựng trong một gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,0604g, loại Methamphetamine và mẫu tinh thể đựng trong ba gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,2182g, loại Methamphetamine. Tổng khối lượng là 0,2786g, loại Methamphetamine.
Methamphetamine là chất ma túy nằm trong Danh mục II, STT: 323, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ.
- Tang vật của vụ án: 01 phong bì đựng bao gói vật chứng trước giám định; 01 phong bì đựng mẫu hoàn lại sau giám định 0,0887g; 01 chiếc ví màu đen dùng để cất giấu ma túy; 01 chứng minh nhân dân mang tiên Lê Đức O; 01 bình nhựa có gắn ống thủy tinh và ống nhựa là công cụ bị cáo dùng để sử dụng ma túy Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng chuyển Chi cục thi hành án dân sự huyện Đ chờ xử lý.
Đối với xe mô tô biển số 49N5-0880, hiện chưa xác định được chủ sở hữu nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ tách ra xử lý sau.
Tình tiết tăng nặng: Bị cáo chưa được xóa án tích mà tiếp tục phạm tội nên thuộc trường hợp tái phạm.
Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra bị cáo đã thành khẩn khai báo.
Cáo trạng số 15/CT-VKS ngày 10 tháng 01 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ đã truy tố bị cáo Lê Đức O về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa hôm nay, Đại diện Viện kiểm sát huyện Đ giữ nguyên cáo trạng truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự 2015 để xử phạt bị cáo Lê Đức O từ 24 tháng tù đến 30 tháng tù giam.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Xét về hoạt động điều tra, truy tố của điều tra viên, kiểm sát viên thì thấy rằng trong quá trình điều tra, truy tố, điều tra viên, kiểm sát viên đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, không ai có ý kiến thắc mắc hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng. Như vậy, các cơ quan tiến hành tố tụng, những người tiến hành tố tụng thực hiện đúng thẩm quyền, đúng trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo Lê Đức O đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình cụ thể như sau: Do nghiện ma túy vào ngày 06/9/2021 bị cáo Lê Đức O có mua ma túy của một người đàn ông tên Hải không rõ nhân thân lai lịch tại khu vực chợ L N thuộc thị trấn L N, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng với số tiền 200.000đ, mục đích sử dụng cho bản thân. Đến khoảng 13 giờ 00 phút ngày 07/9/2021, bị cáo đang điều khiển xe mô tô biển số 49N5-0880 đi đến trước số nhà 31 Mai Hắc Đế, thị trấn L N, huyện Đ thì bị Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an huyện Đức Trọng tiến hành kiểm tra hành chính và phát hiện trong chiếc ví màu đen để ở cạp quần phía trước của bị cáo O có 1 gói nylon chứa chất màu trắng nghi là ma túy. Sau đó, Công an huyện Đ đã tiến hành khám xét chỗ ở của bị cáo O tại phòng trọ số 05 số nhà 65, Sư Vạn Hạnh, thị trấn L N, huyện Đ thì phát hiện trong túi áo khoác của O để trên gác lửng có 01 gói nylon màu đen bên trong có 03 gói nylon màu trắng chứa chất tinh thể màu trắng nghi là ma túy, 01 bình nhựa có gắn ống thủy tinh và ống nhựa. Lực lượng Công an đã tiến hành lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang đối với bị cáo sau đó niêm phong toàn bộ số ma túy thu giữ được của bị cáo.
Tại bản kết luận giám định số 1219/GĐ-PC09 ngày 13/9/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lâm Đồng kết luận: Mẫu tinh thể đựng trong một gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,0604g, loại Methamphetamine và mẫu tinh thể đựng trong ba gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,2182g, loại Methamphetamine. Tổng khối lượng là 0,2786g, loại Methamphetamine.
Xét thấy, lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, Cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố, biên bản phạm tội quả tang, vật chứng vụ án, lời khai của người làm chứng và các chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận hành vi phạm tội của bị cáo Lê Đức O đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện, chứng tỏ bị cáo thể hiện sự coi thường pháp luật, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, ổn định tại địa phương mà còn xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về chất ma túy.
Xem xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân xấu, bị cáo đã nhiều lần bị xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và đang có tiền án về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, bị cáo chưa được xóa án tích lại tiếp tục phạm tội. Do đó lần phạm tội này thuộc trường hợp tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 để xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo là đúng pháp luật.
Từ những phân tích nhận định trên, căn cứ vào tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để bị cáo cải tạo, nhận thức hành vi phạm tội của mình và mang tính răn đe, giáo dục phòng ngừa chung, đồng thời thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật.
Về tang vật của vụ án: Số ma túy thu giữ của bị cáo còn lại sau khi gửi đi giám định đựng trong 02 (hai) phong bì màu trắng dán kín, niêm phong số: 1219/2021-PC09 có đóng dấu đỏ của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lâm Đồng, 01 chiếc ví da màu đen, 01 bình nhựa có gắn ống thủy tinh và ống nhựa xét thấy nên cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp.
- Đối với 01 chứng minh nhân dân mang tên Lê Đức O, đây là tài sản cá nhân của bị cáo cần hoàn trả cho bị cáo O.
Trong vụ án có đối tượng tên Hải đã bán ma túy cho bị cáo, quá trình điều tra chưa xác định được nhân thân lai lịch nên đề nghị Công an huyện Đ tiếp tục xác minh, khi có căn cứ sẽ xử lý sau.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Lê Đức O phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt: Bị cáo Lê Đức O 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 07/9/2021.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015: Giao Chi cục thi hành án dân sự huyện Đ tịch thu tiêu hủy số ma túy thu giữ của bị cáo còn lại sau khi gửi đi giám định đựng trong 02 (hai) phong bì màu trắng dán kín, niêm phong số: 1219/2021-PC09 có đóng dấu đỏ của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lâm Đồng, 01 chiếc ví da màu đen, 01 bình nhựa có gắn ống thủy tinh và ống nhựa.
- Hoàn trả cho bị cáo Lê Đức O 01 (một) chứng minh nhân dân mang tên Lê Đức O.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 31/12/2021 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng).
3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Buộc bị cáo Lê Đức O phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo được quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - Tòa án tỉnh Lâm Đồng; - Sở tư pháp tỉnh Lâm Đồng; - VKSND huyện Đ; - Công an huyện Đ; - THA huyện Đ; - Bị cáo; - Người tham gia tố tụng; - Bộ phận THA phạt tù; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trần Thanh Long |