- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn S và đồng phạm - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Trần Văn S, Trần Xuân Ng; giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 12/2022/HS-ST ngày 12 tháng 4 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện YB, tỉnh Yên Bái.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH YÊN BÁI _________________ Bản án số: 15/2022/HS-PT Ngày 29-6-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH YÊN BÁI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Vân
Các thẩm phán:
Ông Trần Trung Hải
Bà Nguyễn Thị Thu Lan
- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Tố Uyên - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Yên Bái.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Yên Bái tham gia phiên toà: Ông Hoàng Quốc Trường - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 6 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Yên Bái xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 17/2022/TLPT-HS ngày 17 tháng 5 năm 2022 đối với bị cáo Trần Văn S cùng đồng phạm do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 12/2022/HS-ST ngày 12 tháng 4 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện YB, tỉnh Yên Bái.
- Các bị cáo có kháng cáo:
1. Trần Văn S, sinh ngày 18 tháng 3 năm 1985 tại huyện YB, tỉnh Yên Bái;
Nơi cư trú: Thôn NN, xã MS, huyện YB, tỉnh Yên Bái; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn Ch, sinh năm 1959 và bà Hoàng Thị L, sinh năm 1963; có vợ là Hà Thị Thanh Nh, sinh năm 1986 và 03 con (lớn sinh năm 2005, nhỏ sinh năm 2019); tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 18 tháng 02 năm 2022 bị Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Yên Bái xử phạt vi phạm hành chính về hành vi không có giấy chứng nhận khả năng chuyên môn thuyền trưởng hạng Tư, không có giấy chứng nhận đăng ký, không có giấy chứng nhận an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường của phương tiện, phạt tiền 7.500.000đồng (Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 000353/QĐ-XPHC); bị cáo tại ngoại tại nơi cư trú - có mặt tại phiên tòa.
2. Trần Xuân Ng, sinh ngày 28 tháng 8 năm 1991 tại huyện YB, tỉnh Yên Bái;
Nơi cư trú: Thôn LM, xã VL, huyện YB, tỉnh Yên Bái; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn C, sinh năm 1966 và bà Hà Thị Q, sinh năm 1974; có vợ là Hoàng Thị T, sinh năm 1994 và 02 con (lớn sinh năm 2010, nhỏ sinh năm 2012); tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 16/4/2009 bị Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội Công an tỉnh Yên Bái xử phạt vi phạm hành chính 100.000đồng về hành vi Vi phạm trật tự công cộng (Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 09/QĐXPVPHC), ngày 29/7/2013 bị Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội Công an tỉnh Yên Bái xử phạt vi phạm hành chính 1.000.000đồng về hành vi Đánh bạc (Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 32/QĐXPVPHC); bị cáo tại ngoại tại nơi cư trú - có mặt tại phiên tòa.
- Ngoài ra, còn có bị cáo Nguyễn Mạnh Th có kháng cáo (đã rút kháng cáo); các bị cáo Chu Văn Th1, Nguyễn Văn C1, Nguyễn Văn H, Trần Văn D, Đặng Đình Th2, Trần Thị Th3, Tạ Quỳnh A không có kháng cáo và không bị kháng cáo, không bị kháng nghị - Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 20 giờ ngày 05/10/2021, Chu Văn Th1, Nguyễn Văn H đến nhà Nguyễn Văn C1 chơi. C1, Th1 và H cùng rủ nhau ra hồ TB đánh bạc. Nguyễn Văn C1 gọi điện cho Trần Văn S bảo S dùng thuyền của S chở đi đánh bạc, S đồng ý và hẹn đón C1 ở bến thuyền thuộc thôn ĐC, xã VL, huyện YB, tỉnh Yên Bái. C1, Th1 và H đi ra bến thuyền nơi hẹn với S. Khi đi C1 gặp Đặng Đình Th2 và Trần Xuân Ng đang ngồi uống nước ở quán nước, biết C1 đi đánh bạc nên Th2 và Ng đi theo. Trên đường đi C1 nhận được điện thoại của Nguyễn Mạnh Th hỏi có đánh bạc không, C1 nói cho Th biết việc ra hồ đánh bạc nên Th cùng Trần Văn D đi ra bến thuyền nơi C1 đã hẹn S. Tại bến thuyền C1, Th1, H, Th2, Ng, Th, D cùng một số người lên thuyền khi S đến đón, trên thuyền lúc này còn có Tạ Quỳnh A và Trần Thị Th3 là hai người S gặp trên đường đi đón C1 cùng mọi người, Th3 và Quỳnh A hỏi S và biết có việc đánh bạc nên xin đi cùng.
Khoảng 22 giờ ngày 05/10/2021, sau khi đón mọi người S điều khiển thuyền ra giữa hồ TB và dừng thuyền tại địa phận xã VL, huyện YB, tỉnh Yên Bái để các đối tượng đánh bạc. Trên đường đi C1 đã lấy dao, thớt để chẻ một thanh tre (dùng đảo cơm) có trên thuyền để làm thành bốn quân vị hình chữ nhật, C1 dùng bút mực màu xanh để tô lên một mặt quân vị. C1 làm xong quân vị thì để vào đĩa, bát có sẵn ở trên mặt chiếu đã được trải sẵn dưới lòng thuyền. Tại thuyền của S các đối tượng cùng nhau đánh bạc bằng hình thức xóc đĩa được thua bằng tiền. Đặng Đình Th2 là người cầm cái xóc đĩa cho các đối tượng đánh bạc, Th2 không tham gia đặt cược tiền (các đối tượng tự cân cái chẵn lẻ nếu không cân cái người xóc cái sẽ không mở bát), những người tham gia đánh bạc gồm: Nguyễn Văn C1, Nguyễn Văn H, Chu Văn Th1, Trần Xuân Ng, Trần Văn D, Nguyễn Mạnh Th, Tạ Quỳnh A, Trần Thị Th3. Trên thuyền còn có các đối tượng gồm: Người phụ nữ tên H1 (ở TQ), người nam giới (đi cùng H1), người đàn ông tên T1 (ở thị trấn TB, huyện YB, tỉnh Yên Bái) và Nguyễn Văn D1, sinh năm 1989 (trú tại: Thôn ĐC, xã VL, huyện YB, tỉnh Yên Bái). Quá trình đánh bạc, mỗi người chơi tự giác để 100.000đồng dưới chiếu cho Trần Văn S vì S đưa đón mọi người đi và dùng thuyền của mình cho các đối tượng làm nơi đánh bạc.
Khoảng 01 giờ 00 ngày 06/10/2021, khi các đối tượng đang đánh bạc thấy có thuyền đi đến gần nên S vào tắt đèn (S đứng ở đầu thuyền không tham gia đặt cược), thấy S tắt đèn nên Trần Văn D đã ném đĩa và quân vị xuống hồ, các đối tượng nghỉ không đánh bạc nữa, Trần Văn S điều khiển thuyền đưa mọi người về.
Cách thức đánh bạc được quy ước như sau: Người xóc cái cho 4 quân vị lên trên mặt đĩa sau đó úp chiếc bát lên trên rồi dùng hai tay giữ chặt chiếc bát, đĩa và xóc rồi đặt xuống chiếu. Người tham gia đánh bạc lựa chọn “cửa chẵn” hoặc “cửa lẻ”, mỗi lần chơi là một lần xóc cái và mở bát. Kết quả thắng thua dựa vào kết quả của 4 quân vị sau khi mở bát, nếu kết quả quân vị sau khi mở bát là chẵn thì người đặt “cửa chẵn” thắng tiền và người chơi “cửa lẻ” thua tiền bằng số tiền đã đặt cược. Nếu kết quả 4 quân vị sau khi mở bát là lẻ thì người đặt “cửa lẻ” thắng tiền và người chơi “cửa chẵn” thua tiền bằng số tiền đã đặt cược, tỷ lệ thắng thua là 1 ăn 1. Quy ước chẵn, lẻ như sau: Bên phải người cầm cái là “cửa chẵn” bên trái người cầm cái là “cửa lẻ”, kết quả 4 quân vị cùng một màu hoặc hai cặp quân vị cùng một màu thì quy ước là “chẵn”, ba quân vị cùng một màu và 01 quân vị khác màu thì quy ước là “lẻ”. Các đối tượng đánh bạc quy định tự cân cái chẵn lẻ nếu không cân cái người xóc cái sẽ không mở bát.
Các bị cáo khai nhận số tiền dùng để đánh bạc cụ thể như sau: Nguyễn Văn C1 sử dụng 1.150.000đồng và bị thua hết; Trần Văn D sử dụng 500.000đồng và thắng số tiền 3.000.000đồng, D mang về 3.500.000đồng; Nguyễn Văn H sử dụng 650.000đồng và bị thua hết; Chu Văn Th1 sử dụng 1.500.000đồng và bị thua hết; Trần Thị Th3 sử dụng 800.000đồng và bị thua hết; Tạ Quỳnh A sử dụng 500.000đồng và bị thua hết; Trần Xuân Ng sử dụng 3.150.000đồng và thắng số tiền 1.800.000đồng, Ng mang về 4.950.000đồng; Nguyễn Mạnh Th sử dụng 2.000.000đồng vay của Nguyễn Văn C1 khi C1 thắng bạc và bị thua hết. Đặng Đình Th2 được Trần Xuân Ng cho 100.000đồng và nhặt ở dưới chiếu 100.000đồng, Th2 mang về 200.000đồng. Trần Văn S thu được dưới chiếu 1.100.000đồng do được các đối tượng trả tiền công đưa, đón và sử dụng thuyền làm nơi đánh bạc.
Ngày 07/10/2021, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Yên Bái tiếp nhận đơn tố giác tội phạm với nội dung: Đêm ngày 05/10/2021 có khoảng 10 người tham gia đánh bạc dưới hình thức xóc đĩa được thua bằng tiền trên khu vực hồ TB gồm: Nguyễn Văn C1, Nguyễn Văn H, Chu Văn Th1, Trần Xuân Ng, Trần Văn D, Đặng Đình Th2, Trần Văn S, Tạ Quỳnh A, Trần Thị Th3 và một số đối tượng khác ở Tuyên Quang như Th “Cúc”, H1. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Yên Bái đã triệu tập các đối tượng bị tố giác đến làm việc. Quá trình làm việc, Nguyễn Văn C1, Nguyễn Văn H, Chu Văn Th1, Trần Xuân Ng, Trần Văn D, Tạ Quỳnh A, Trần Thị Th3 đã khai nhận hành vi đánh bạc bằng hình thức “xóc đĩa” được thua bằng tiền, Đặng Đình Th2 khai nhận ngồi xóc cái cho các đối tượng đánh bạc, Trần Văn S khai nhận dùng thuyền của mình đưa đón và sử dụng làm nơi đánh bạc.
Ngày 15/10/2021, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Yên Bái đã cho các đối tượng thực nghiệm điều tra hành vi đánh bạc trên thuyền tại xã Vl, huyện YB, tỉnh Yên Bái và thu giữ: 01 chiếc thuyền, 01 bát sứ màu trắng, 01 chiếc thớt hình tròn đường kính 27cm, 02 chiếc chiếu cói các đối tượng sử dụng để đánh bạc. Không thu giữ được 01 con dao và 01 chiếc bút do Nguyễn Văn C1 sử dụng để làm công cụ đánh bạc do không thấy trên thuyền, còn đĩa và quân vị đã bị Trần Văn D ném xuống hồ.
Ngày 22/12/2021, Nguyễn Mạnh Th đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện YB đầu thú và khai nhận về hành vi tham gia đánh bạc cùng các bị cáo khác vào ngày 05/10/2021 tại xã VL, huyện YB, tỉnh Yên Bái như đã nêu ở trên.
Tổng số tiền các bị cáo khai nhận sử dụng vào việc đánh bạc là 8.250.000đồng. Quá trình giải quyết vụ án các bị cáo đã tự giác giao nộp số tiền 9.750.000đồng, gồm: Trần Văn D 3.500.000đồng, Trần Văn S 1.100.000đồng, Đặng Đình Th2 200.000đồng, Trần Xuân Ng 4.950.000đồng. Quá trình điều tra xác định tổng số tiền các bị cáo khai nhận sử dụng đánh bạc và số tiền thu giữ được có sự chênh lệch là do còn một số đối tượng khác Cơ quan điều tra chưa làm việc được do không có mặt tại địa phương và không rõ tên, tuổi địa chỉ.
Đối với người phụ nữ tên H1 (ở TQ), người nam giới (đi cùng H1), người đàn ông tên T1 (ở thị trấn TB, huyện YB, tỉnh Yên Bái) có mặt ở trên thuyền khi các đối tượng đánh bạc. Quá trình điều tra không xác định được tên tuổi, địa chỉ cụ thể của các đối tượng này nên chưa đủ điều kiện để xem xét xử lý trong vụ án nên Cơ quan điều tra không xử lý.
Đối với Nguyễn Văn D1 quá trình xác minh D1 không có mặt tại địa phương. Căn cứ các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ chưa đủ căn cứ để xử lý trong vụ án nên Cơ quan điều tra xem xét xử lý sau khi có đủ căn cứ.
Đối với hành vi điều khiển thuyền và đưa thuyền không có giấy chứng nhận khả năng chuyên môn thuyền trưởng hạng Tư, không có giấy chứng nhận đăng ký, không có giấy chứng nhận an toàn kỹ thuật và bảo vệ mội trường của phương tiện vào sử dụng của Trần Văn S. Ngày 18/02/2022, phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Yên Bái đã Quyết định xử lý vi phạm hành chính đối với những hành vi này của S.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 12/2022/HS-ST ngày 12 tháng 4 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện YB, tỉnh Yên Bái đã quyết định:
I. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Mạnh Th, Chu Văn Th1, Trần Xuân Ng, Nguyễn Văn C1, Trần Văn S, Nguyễn Văn H, Trần Văn D, Đặng Đình Th2, Trần Thị Th3 và Tạ Quỳnh A phạm tội “Đánh bạc”.
II. Về hình phạt:
1) Trần Văn S: Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự.
- Hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Trần Văn S 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.
- Hình phạt bổ sung: Phạt Trần Văn S 10.000.000đồng (mười triệu đồng) sung vào ngân sách Nhà nước.
2) Nguyễn Mạnh Th: Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự.
- Hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Nguyễn Mạnh Th 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.
- Hình phạt bổ sung: Phạt Nguyễn Mạnh Th 10.000.000đồng (mười triệu đồng) sung vào ngân sách Nhà nước.
3) Trần Xuân Ng: Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự.
- Hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Trần Xuân Ng 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.
- Hình phạt bổ sung: Phạt Trần Xuân Ng 10.000.000đồng (mười triệu đồng) sung vào ngân sách Nhà nước.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn xử phạt các bị cáo (Chu Văn Th1 10 tháng tù), (Nguyễn Văn C1, Trần Văn D mỗi bị cáo 09 tháng tù), (Nguyễn Văn H, Đặng Đình Th2, Trần Thị Th3, Tạ Quỳnh A mỗi bị cáo 08 tháng tù) nhưng đều cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách, tuyên nghĩa vụ thi hành án; quyết định xử lý vật chứng, án phí hình sự sơ thẩm; tuyên quyền kháng cáo và hướng dẫn thi hành án theo quy định của pháp luật.
Ngày 22/4/2022, bị cáo Nguyễn Mạnh Th kháng cáo xin giảm hình phạt và xin được hưởng án treo. Ngày 14/6/2022, bị cáo Nguyễn Mạnh Th đã có đơn rút toàn bộ kháng cáo.
Ngày 25/4/2022, các bị cáo Trần Văn S, Trần Xuân Ng kháng cáo xin được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Yên Bái tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử:
Bị cáo Nguyễn Mạnh Th đã rút kháng cáo, ngày 15/6/2022 Tòa án nhân dân tỉnh Yên Bái đã ra Quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm nên không xét.
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Trần Văn S, Trần Xuân Ng về việc xin được hưởng án treo; giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 12/2022/HS-ST ngày 12 tháng 4 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện YB, tỉnh Yên Bái về hình phạt đối với các bị cáo.
Các bị cáo Trần Văn S, Trần Xuân Ng phải chịu án phí hình sự phúc thẩm
Giữ nguyên các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị.
* Các bị cáo Trần Văn S, Trần Xuân Ng thừa nhận hành vi phạm tội của bản thân như bản án sơ thẩm đã xác định và giữ nguyên nội dung kháng cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Ngày 14/6/2022, bị cáo Nguyễn Mạnh Th đã có đơn rút toàn bộ kháng cáo, ngày 15/6/2022 Tòa án nhân dân tỉnh Yên Bái đã ra Quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm.
[2] Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Trần Văn S, Trần Xuân Ng đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Bản án sơ thẩm đã xác định, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập trong hồ sơ vụ án và xem xét tại phiên tòa. Như vậy, đã có đầy đủ cơ sở kết luận: Trong khoảng thời gian từ 22 giờ ngày 05/10/2021 đến 01 giờ ngày 06/10/2021, tại khu vực hồ TB (thuộc xã VL, huyện YB, tỉnh Yên Bái), Trần Văn S đã sử dụng thuyền sắt của mình để cho Nguyễn Mạnh Th, Chu Văn Th1, Trần Xuân Ng, Nguyễn Văn C1, Nguyễn Văn H, Trần Văn D, Trần Thị Th3 và Tạ Quỳnh A đánh bạc bằng hình thức “xóc đĩa” được thua bằng tiền; Đặng Đình Th2 không tham gia đặt cược tiền nhưng là người cầm cái xóc đĩa cho các đối tượng đánh bạc. Các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự với tổng số tiền các đối tượng sử dụng để đánh bạc là 9.750.000đồng.
Việc Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt các bị cáo Trần Văn S, Trần Xuân Ng về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội.
[3] Xét nội dung kháng cáo xin được hưởng án treo của các bị cáo Trần Văn S, Trần Xuân Ng, Hội đồng xét xử thấy:
Các bị cáo đều là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, xâm phạm đến trật tự công cộng. Vì vậy, việc xử lý nghiêm hành vi phạm tội của bị cáo theo quy định của pháp luật là cần thiết.
Khi quyết định hình phạt Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo và áp dụng cho các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51; riêng bị cáo Trần Văn S có bố, mẹ đẻ tham gia chiến tranh bảo vệ Tổ quốc và làm nhiệm vụ quốc tế được quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ.
Các bị cáo đều đã bị xử phạt vi phạm hành chính: Bị cáo Trần Văn S bị xử phạt 01 lần đến nay chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính; bị cáo Trần Xuân Ng bị xử phạt 02 lần.
Vì vậy, mức hình phạt 01 năm tù mà Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng đối với từng bị cáo là phù hợp nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo.
[4] Tại phiên toà phúc thẩm các bị cáo không xuất trình được thêm chứng cứ gì mới để chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình.
[5] Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phúc thẩm là có căn cứ cần được chấp nhận.
[6] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Trần Văn S, Trần Xuân Ng; giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 12/2022/HS-ST ngày 12 tháng 4 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện YB, tỉnh Yên Bái.
[7] Do kháng cáo của các bị cáo không được chấp nhận nên các bị cáo Trần Văn S, Trần Xuân Ng phải chịu tiền án phí hình sự phúc thẩm.
[8] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
1. Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Trần Văn S, Trần Xuân Ng; giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 12/2022/HS-ST ngày 12 tháng 4 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện YB, tỉnh Yên Bái.
- Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Trần Văn S 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày đi thi hành án và 10.000.000đồng (mười triệu đồng) sung vào ngân sách Nhà nước về tội “Đánh bạc”.
- Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Trần Xuân Ng 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày đi thi hành án và 10.000.000đồng (mười triệu đồng) sung vào ngân sách Nhà nước về tội “Đánh bạc”.
2. Về án phí phúc thẩm: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án,
Các bị cáo Trần Văn S, Trần Xuân Ng mỗi bị cáo phải chịu 200.000đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Vụ GĐKT1-TAND Tối cao; - VKSND tỉnh Yên Bái; - Sở Tư pháp tỉnh Yên Bái; - Cơ quan HS-NV Công an tỉnh Yên Bái; - VKSND huyện YB, tỉnh Yên Bái; - Cơ quan THA hình sự - CA huyện YB; - Công an huyện YB, tỉnh Yên Bái; - TAND huyện YB, tỉnh Yên Bái (3); - THADS huyện YB, tỉnh Yên Bái; - Bị cáo (2); - Lưu: Hồ sơ, HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thị Vân |