vanban.org

Bản án 15/2022/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Quảng Trị Tuyên án 10/11/2022 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 10/11/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Hồ Văn H phạm tội “Cố ý gây thương tích” .

Xử phạt bị cáo Hồ Văn H 04 (Bốn) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 10/11/2022. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Hồ Văn H phải bồi thường cho anh Lê Văn B tổng số tiền 16.540.000đồng (Trong đó: Tiền thuê xe: 1.000.000đồng; tiền tổn thất tinh thần: 3.000.000đồng; tiền ăn của ngư… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hồ Văn H "Cố ý gây thương tích" - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác (điều 104 Bộ luật hình sự năm 1…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Hồ Văn H phạm tội “Cố ý gây thương tích” .
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH QUẢNG TRỊ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:15/2022/HS-PT
Ngày 10/11/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị Thu Hà

Các Thẩm phán:

Bà Nguyễn Thị Hà

Ông Lê Thiết Hùng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Nhật Ánh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị .

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa: Ông Trần Cúc Phương - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 11 năm 2022 tại Hội trường xét xử - Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 21/2022/TLPT-HS ngày 12 tháng 10 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2022/QĐXXPT-HS ngày 25 tháng 10 năm 2022, đối với bị cáo:

Hồ Văn H, sinh năm 1995 tại huyện H, tỉnh Quảng Trị; Nơi cư trú: thôn A, xã L, huyện H, tỉnh Quảng Trị; Nghề nghiệp: Làm rẫy; trình độ văn hóa: Lớp 9/12; dân tộc: Pa Cô; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hồ Văn C và bà Hồ Thị H; có vợ là Hồ Thị N và có 01 con sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa cho bị cáo Hồ Văn H: Bà Lê Thị Thùy Linh - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Quảng Trị, có mặt.

- Người phiên dịch: Ông Hồ Văn Linh; địa chỉ: Thị trấn Krông Klang, huyện Đakrông, tỉnh Quảng Trị là người phiên dịch cho bị cáo, có mặt.

- Bị hại: Anh Lê Văn B, sinh năm 1987; địa chỉ: Thôn M, xã L, huyện H, tỉnh Quảng Trị, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ ngày 01/01/2022, Hồ Văn H, Hồ Văn L ngồi uống rượu tại nhà của Hồ Văn C. Đến 18 giờ 30 phút, C rủ H và Lợi đến nhà Lê Văn B để tìm Thịnh đòi tiền nợ. Khi đến, thấy B đang ngồi chơi với Hồ Văn C, Hồ Văn P, C hỏi: “Em ơi, Thịnh đi đâu rồi em”. B trả lời: “Thịnh nhậu say rồi, tìm Thịnh có việc gì không anh”, C đáp: “Thịnh bảo anh qua lấy tiền, Thịnh nợ anh một triệu tám”. Nghe vậy H liền nói: “Nếu lỡ Thịnh về quê thì ai trả tiền này”, anh B hỏi: “Thịnh nợ tiền C hay nợ tiền H?” rồi nói với C:“Thịnh nợ tiền của anh mà không nói cho em biết, nếu Thịnh nợ thì để từ từ Thịnh trả lúc này em cũng chưa có tiền, khi nào em lấy được tiền hàng thì em gọi anh C qua lấy”. Nghe anh B nói vậy, H nói: “C ơi về đi, nếu B nói không liên quan thì thôi đi tìm Thịnh xử lý”. Anh B nói với H:“Chú H nói rứa không được, toàn anh em chú cháu với nhau”. H nói lại: “Chú nói cái chi mà cháu nói không được” rồi bỏ về. Còn C, Lợi, Cường và Pen ngồi chơi tại nhà anh B.

Về đến nhà, H bực tức cho rằng B coi thường mình nên xuống bếp lấy 01 con dao dài 41cm (lưỡi dài 29 cm, cán bằng gỗ dài 12 cm) rồi đi đến nhà B. Lúc này, B đang ngồi uống nước thấy H đến, B nói:“Nhậu chú”, H trả lời:“Tao không có tình cảm với mày” rồi lao đến dùng dao chém 01 nhát vào người B theo hướng từ trên xuống dưới. Theo phản xạ, B đưa tay trái lên đỡ nên bị chém trúng lòng B tay. B đứng dậy bỏ chạy vào bên trong xưởng mộc, H cầm dao đuổi theo. Thấy vậy, Cường cùng những người khác chạy đến can ngăn, ôm giữ và giật lấy dao trên tay H. H ra đường đứng rồi đi nhờ xe mô tô về nhà ngủ. Anh B được mọi người đưa đi cấp cứu, điều trị tại Trung tâm y tế huyện H cho đến ngày 07/01/2022. Ngày 07/01/2022, anh Lê Văn B có đơn yêu cầu khởi tố đối với Hồ Văn H.

Bản Kết luận giám định pháp y thương tích số 72/TgT ngày 08/3/2022 của Trung tâm pháp y tỉnh Quảng Trị kết luận: Sẹo phần mềm lòng B tay, đốt 2-3 ngón 4 tay trái, mép sắc. Tỷ lệ tổn thương cơ thể của Lê Văn B do thương tích gây nên hiện tại là: 02% (hai phần trăm). Các tổn thương trên do vật có cạnh sắc tác động trực tiếp.

Về trách nhiệm dân sự: Tại đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại đề ngày 14/7/2022, bị hại Lê Văn B yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm với tổng số tiền là 48.080.000 đồng, gồm các chi phí sau đây:

- Tiền chi phí ăn uống: 90.000đồng/ngày x 2 người x 6 ngày = 1.080.000đồng.

- Tiền xe đi lại: 2 chuyến x 500.000đồng/chuyến = 1.000.000đồng

- Tiền mất thu nhập: 60 ngày x 600.000đồng/ngày = 36.000.000đồng

- Tiền tổn thất tinh thần: 10.000.000đồng.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 39/2022/HS-ST ngày 12/8/2022 của Tòa án nhân dân huyện H quyết định xử:

Căn cứ điểm a, i khoản 1 Điều 134; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; khoản 1 Điều 38, Điều 48 của Bộ luật hình sự; Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 468, 584, 585, 586, 590 của Bộ luật dân sự; Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a, c, e khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án;

1. Tuyên bố bị cáo Hồ Văn H phạm tội “Cố ý gây thương tích” .

Xử phạt bị cáo Hồ Văn H 04 (Bốn) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

2. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Hồ Văn H phải bồi thường toàn bộ thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm cho anh Lê Văn B số tiền 10.540.000đồng (Trong đó: Tiền thuê xe: 1.000.000đồng; tiền tổn thất tinh thần: 3.000.000đồng; tiền ăn của người chăm sóc: 540.000đồng; tiền công lao động: 6.000.000đồng).

Ngoài ra, bản án còn tuyên án phí và quyền kháng cáo.

Ngày 26/8/2022, người bị hại ông Lê Văn B kháng cáo với nội dung như sau:

- Quá trình điều tra, Công an huyện H dấu đơn trình báo của người bị hại và không điều tra vụ án theo đơn trình báo của người bị hại.

- Hồ Văn C, Hồ Văn L đi cùng bị cáo, nhưng cơ quan điều tra kết luận là người làm chứng là không đúng.

- Cơ quan điều tra không thông báo cho người bị hại biết quá trình điều tra và kết luận điều tra vụ án.

- Tòa án cấp sơ thẩm buộc bị cáo H bồi thường 10 ngày mất thu nhập là không phù hợp vì đặc thù nghề nghiệp, người bị hại mất lao động là 02 tháng.

- Tại phiên tòa sơ thẩm, người làm chứng Hồ Văn C, Hồ Văn L vắng mặt, nhưng Viện kiểm sát nhân dân huyện H lại đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt người làm chứng.

Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xét xử lại bản án của Tòa án nhân dân huyện H theo hướng hủy bản án hình sự sơ thẩm và điều tra, xét xử lại vụ án từ đầu.

Quan điểm giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị hại anh Lê Văn B, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về tố tụng: Đơn kháng cáo của người bị hại ông Lê Văn B phù hợp với các Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự về chủ thể và thời hạn kháng cáo nên Hội đồng xét xử phúc thẩm xét kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa sơ thẩm người bị hại không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Theo hồ sơ vụ án thể hiện các hành vi, tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về hành vi của bị cáo: Tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm, bị cáo thừa nhận giữa anh B và bị cáo không có mâu thuẫn, nhưng khoảng 19 giờ ngày 01 tháng 01 năm 2022, bị cáo đã vô cớ dùng cây dao bằng kim loại chém vào lòng B tay, đốt 2-3 ngón 4 tay trái của anh Lê Văn B gây thương tích 02%. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xử bị cáo Hồ Văn H về tội “Cố ý gây thương tích” với 02 tình tiết định khung“Dùng hung khí nguy hiểm” và “Có tính chất côn đồ” quy định tại điểm a, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự và áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo là bị cáo đã thành khẩn khai báo, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo thuộc diện hộ nghèo quy định tại các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự hình sự là đúng người, đúng tội. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị hại anh Lê Văn Bản không kháng cáo về tội danh và hình phạt đối với bị cáo nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Xét kháng cáo của người bị hại ông Lê Văn B, Hội đồng xét xử thấy:

Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa sơ thẩm, anh Lê Văn B không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Theo hồ sơ vụ án thể hiện các hành vi, tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Theo hồ sơ vụ án thể hiện anh Lê Văn B có đơn trình báo vụ việc ngày 07/1/2022 và ngày 07/1/2022 Công an xã L, huyện H lập biên bản tiếp nhận thông tin về tội phạm, đồng thời lập hồ sơ chuyển Công an huyện H quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị cáo và điều tra truy tố xét xử bị cáo theo đơn tố giác tội phạm của bị hại. Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cá, bị hại anh Lê Văn B đều thể hiện anh Hồ Văn C, anh Hồ Văn L không có hành vi đồng phạm giúp sức cho bị cáo để gây thương tích cho anh Lê Văn B. Tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm bị cáo thừa nhận chỉ duy nhất bị cáo là người gây thương tích cho anh Lê Văn B, ngoài ra không có người nào cùng bị cáo gây thương tích cho anh B. Tại phiên tòa sơ thẩm anh Hồ Văn C, anh Hồ Văn L vắng mặt nhưng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nên Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ khoản 1 Điều 293 BLTTHS xét xử vắng mặt người làm chứng là đúng pháp luật. Vì vậy, Hội đồng xét xử không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bị hại.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Lê Văn B yêu cầu bị cáo Hồ Văn H phải bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm tổng số tiền 48.080.000đồng, trong đó: Tiền chi phí ăn uống: 90.000đồng/ngày x 2 người x 6 ngày = 1.080.000đồng; Tiền xe đi lại: 2 chuyến x 500.000đồng/chuyến = 1.000.000đồng; Tiền mất thu nhập: 60 ngày x 600.000đồng/ngày = 36.000.000đồng và tiền tổn thất tinh thần: 10.000.000đồng.

Tòa án cấp sơ thẩm buộc bị cáo Hồ Văn H phải bồi thường cho bị hại tổng số tiền 10.540.000đồng (Trong đó: Tiền thuê xe: 1.000.000đồng; tiền tổn thất tinh thần: 3.000.000đồng; tiền ăn của người chăm sóc: 540.000đồng; tiền công lao động: 6.000.000đồng).

Tại phiên tòa, bị hại anh Lê Văn B cho rằng các khoản tiền thuê xe, khoản bồi thường tổn thất tinh thần, tiền ăn của người chăm sóc thì bị hại không kháng cáo, nhưng đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét tăng mức tiền công lao động do mất thu nhập: 60 ngày x 600.000đồng/ngày = 36.000.000đồng vì do nghề nghiệp của bị hại là làm mộc cần sử dụng B tay để lao động. Hội đồng xét xử thấy, bị hại anh Lê Văn B cung cấp cho Tòa án 01 Giấy xác nhận nghề nghiệp anh B làm nghề chế biến gia công gỗ có mức thu nhập ổn định 18.000.000đồng/tháng và được UBND xã L, huyện H xác nhận. Anh B yêu cầu bồi thường ngày công lao động số tiền 600.000đồng/ngày là có cơ sở chấp nhận. Theo bệnh án ngoại khoa của Trung tâm y tế huyện H thể hiện bị hại anh B nhập viện điều trị vết thương do bị cáo gây thương tích từ ngày 01/1/2022 ra viện ngày 07/1/2022 và hướng điều trị: Vệ sinh chăm sóc tại nhà, 04 ngày sau cắt chỉ. Như vậy, bị hại điều trị tại Trung tâm y tế huyện H 06 ngày, 04 ngày sau khi ra viện mới cắt chỉ vết thương thì tổng cộng là 10 ngày, với nghề nghiệp là thợ mộc gia công thì sau khi cắt chỉ bị hại cũng chưa thể lao động được nên cần chấp nhận kháng cáo của bị hại và buộc bị cáo phải bồi thường cho anh B tiền công lao động do mất thu nhập: 20 ngày x 600.000đồng/ngày = 12.000.000đồng.

. Về án phí:

Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a, c, e khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Buộc bị cáo Hồ Văn H phải chịu số tiền 200.000đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm, số tiền 200.000đồng án phí hình sự phúc thẩm và án phí dân sự sơ thẩm là 827.000đồng.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.

Ra Lệnh “ Cấm đi khỏi nơi cư trú” đối với bị cáo để đảm bảo cho việc thi hành án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 357 của Bộ luật tố tụng hình sự. Chấp nhận một phần kháng cáo của người bị hại anh Lê Văn B và sửa bản án sơ thẩm phần trách nhiệm dân sự.

Căn cứ điểm a và điểm i khoản 1 Điều 134, điểm i và diểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54, Điều 48, khoản 1 Điều 38, điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 468, 584, 585, 586, 590 Bộ luật dân sự; điểm a, c, e khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án, xử:

1. Tuyên bố bị cáo Hồ Văn H phạm tội “Cố ý gây thương tích” .

2. Xử phạt bị cáo Hồ Văn H 04 (Bốn) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 10/11/2022.

3. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Hồ Văn H phải bồi thường cho anh Lê Văn B tổng số tiền 16.540.000đồng (Trong đó: Tiền thuê xe: 1.000.000đồng; tiền tổn thất tinh thần: 3.000.000đồng; tiền ăn của người chăm sóc: 540.000đồng; tiền công lao động: 12.000.000đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

4. Về án phí:

Buộc bị cáo Hồ Văn H phải chịu số tiền 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm, số tiền 200.000đồng án phí hình sự phúc thẩm và số tiền 827.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ