- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "T/C HNGĐ (Nguyễn Hữu V - Nguyễn Thị T)"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn khởi kiện của anh Nguyễn Hữu Vvề việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” đối với chị Nguyễn Thị T.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 24 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SẦM SƠN TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 15/2022/HNGĐ - ST Ngày: 13 - 6 - 2022 V/v: ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SẦM SƠN, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hùng.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Đình Khanh;
Ông Nguyễn Ngọc Liễu;
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Hồng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Anh Quang - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 6 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Sầm Sơn, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 14/2022/TLST- HNGĐ ngày 25 tháng 01 năm 2022 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 5 năm 2022 và quyết định hoãn phiên tòa số: 10/QĐST-HNGĐ ngày 25 tháng 5 năm 2022, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Nguyễn Hữu V - sinh năm 1978;
Địa chỉ: Khu phố N, phường T, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa;(có mặt)
Bị đơn: Chị Nguyễn Thị T - sinh năm 1981;
Địa chỉ: Khu phố H, phường B, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa; (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn anh Nguyễn Hữu V trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh V và chị T tự do tìm hiểu, được hai bên gia đình đồng ý tổ chức cưới theo phong tục địa phương và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thị xã S (Nay là thành phố S), tỉnh Thanh Hóa vào ngày 28/11/2000. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2013 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình vợ chồng không hợp, bất đồng quan điểm sống, không quan tâm đến nhau, không có tiếng nói chung dẫn đến vợ chồng thường xuyên cải vả. Vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2014 cho đến nay. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên nguyện vọng của anh V được giải quyết ly hôn với chị T
Về con chung: Anh V và chị T có 02 con chung, là cháu Nguyễn Hữu H - sinh ngày 08/4/2001 và cháu Nguyễn Thị Khánh V – sinh ngày 13/9/2007. Nay anh V đề nghị giải quyết cho anh được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Khánh V và yêu cầu chị T cấp dưỡng tiền nuôi con chung mỗi tháng 2.000.000đ (Hai triệu đồng) kể từ khi án có hiệu lực pháp luật đến khi cháu Khánh V đủ 18 tuổi. Cháu H đã thành niên và phát triển bình thường nên anh Vkhông yêu cầu Tòa án giải quyết. Tại buổi hòa giải ngày 08/4/2022 nguyên đơn anh Nguyễn Hữu V thay đổi yêu cầu về việc cấp dưỡng tiền nuôi con chung đối với cháu Khánh V, nay anh đề nghị không yêu cầu chị T phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Về tài sản chung, công nợ chung: Anh V không yêu cầu xem xét, giải quyết.
Đối với bị đơn chị Nguyễn Thị T: Từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến khi xét xử, đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án cho chị T nhưng chị không đến Tòa án làm việc, không có ý kiến phản hồi đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tòa án tiến hành xác minh tại gia đình mẹ đẻ của chị T thì bà Lê Thị X là mẹ của chị T cho biết: Chị T đã về nhà bà X ở từ năm 2014 cho đến nay, hiện chị T làm nghề buôn bán tự do ở Hải Phòng, chị vẫn thường xuyên đi về, những lần Tòa án tống đạt các văn bản bà cũng đã giao tận tay cho chị T nhưng vì bận công việc nên chị không đến Tòa án làm việc, bà cũng cho biết quan điểm của chị T là tình cảm của vợ chồng không còn và đã ly thân nhau từ lâu nên chị cũng đồng ý ly hôn anh V
Tại phiên tòa lần 02 có mặt anh Việt, vắng mặt chị T, anh V vẫn giữ nguyên quan điểm như đã trình bày.
Kết thúc tranh luận, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố S phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án và những người tham gia tố tụng, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến khi Hội đồng xét xử vào nghị án.
Về hướng giải quyết vụ án: Căn cứ các Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014,
Đề nghị: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn, xử cho anh V được ly hôn với chị T.
Về yêu cầu nuôi con chung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào nguyện vọng của đương sự và nguyện vọng của con để giao con theo quy định, cần giao cháu Nguyễn Thị Khánh V cho anh V trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp.
Về tài sản, công nợ chung: Anh V không yêu cầu giải quyết nên miễn xét.
Về án phí: Buộc nguyên đơn anh Nguyễn Hữu V phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa. Trên cơ sở quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về việc chấp hành pháp luật tố tụng và đề nghị hướng giải quyết vụ án. Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân thành phố S có đủ cơ sở nhận định.
[1]. Về thủ tục tố tụng: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn là tranh chấp về hôn nhân và gia đình, theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. Do bị đơn chị Nguyễn Thị T có nơi cư trú tại thành phố S, nên vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân thành phố S là đúng quy định tại các Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa, bị đơn chị Nguyễn Thi T đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng chị T vẫn vắng mặt không vì lý do bất khả kháng và trở ngại khách quan, căn cứ điểm b, khoản 2, Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị T.
Xét về quan hệ hôn nhân: Anh V và chị T đã thực hiện lễ cưới theo phong tục tập quán tại địa phương, việc kết hôn được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn. Tại thời điểm đăng ký kết hôn, cả anh và chị không vi phạm các quy định về độ tuổi và các điều kiện cấm kết hôn theo luật hôn nhân và gia đình. Như vậy, hôn nhân của anh, chị được công nhận là hợp pháp.
. Xét yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn đối với bị đơn: Trong thời kỳ hôn nhân vợ chồng sống không hạnh phúc, phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh chị không hợp nhau về tính tình và quan điểm sống, không quan tâm nhau, không có tiếng chung từ đó dẫn đến vợ chồng anh chị thường xuyên cải vả nhau, xung đột nhau. Quá trình giải quyết vụ án, mặc dù đã được Tòa án triệu tập nhiều lần để giải quyết nhưng chị T vẫn vắng mặt không lý do, điều đó thể hiện chị T không mong muốn vợ chồng hòa giải những bất đồng để quay về đoàn tụ, không tha thiết với cuộc sống hôn nhân. Như vậy, mâu thuẫn cuộc sống hôn nhân của anh chị đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Nay nguyện vọng xin ly hôn của anh Vlà có căn cứ chấp nhận. Hội đồng xét xử chấp nhận với ý kiến của Kiểm sát viên, cho anh Nguyễn Hữu Vđược ly hôn chị Nguyễn Thị T là phù hợp với Điều 51, 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014.
. Về con chung: Anh Vvà chị T có 02 con chung, là cháu Nguyễn Hữu H - sinh ngày 08/4/2001 và cháu Nguyễn Thị Khánh V – sinh ngày 13/9/2007. Nay anh V đề nghị giải quyết cho anh được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Khánh V. Đối với cháu H đã thành niên và phát triển bình thường nên anh V không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Xét thấy việc nuôi dạy con cái là quyền và nghĩa vụ của cha mẹ, ai cũng có quyền này. Cháu Khánh V có nguyện vọng được ở với bố, đây cũng là nguyện vọng của anh Vnên cần giao cháu Khánh V cho anh V trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với Điều 58 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Như vậy, về nguyện vọng nuôi con của anh V là phù hợp và có căn cứ.
Đối với việc cấp dưỡng nuôi con: Anh V không yêu cầu chị T phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Xét đây là ý chí tự nguyện của anh V, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
.Về tài sản chung, công nợ chung: Không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
. Về án phí: Án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm anh Nguyễn Hữu V phải chịu, theo quy định của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. (ban hành kèm theo danh mục án phí, lệ phí Tòa án).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Căn cứ vào Điều 51, Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83 của Luật hôn nhân gia đình năm 2014.
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5, Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận đơn khởi kiện của anh Nguyễn Hữu Vvề việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” đối với chị Nguyễn Thị T.
Xử:
Về hôn nhân: Anh Nguyễn Hữu V được ly hôn với chị Nguyễn Thị T;
Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thị Khánh V cho anh Nguyễn Hữu V trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu thành niên. Chị T không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Chị T có quyền qua lại, thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở.
Về án phí: Anh Nguyễn Hữu V phải chịu 300.000 đ (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí anh Vđã nộp theo biên lai số: AA/2021/0013193 ngày 24/01/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố S, tỉnh Thanh Hóa. Công nhận anh Vđã nộp đủ án phí.
Án xử công khai có mặt nguyên đơn, vắng mặt bị đơn. Anh Nguyễn Hữu V được quyền kháng cáo bản trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, chị Nguyễn Thị T được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND TP. Sầm Sơn; - UBND phường T; - Chi cục THADS TP Sầm Sơn; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Văn Hùng |