vanban.org

Bản án 15/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc "Ly hôn " của bà Trần Thị Như P đối với ông Nguyễn Viết H.

Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Trần Thị Như P được ly hôn ông Nguyễn Viết H. Do chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Trần Thị Như P đối với ông Nguyễn Viết H nên giấy chứng nhận kết hôn số 45 do xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quang Nam (nay là xã Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam) cấp cho bà Trần Thị Như P và ông Nguyễn Viế… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "bà Trần Thị Như P và ông Nguyễn Viết H"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc "Ly hôn " của bà Trần Thị Như P đối với ông Nguyễn Viết H.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN NGŨ HÀNH SƠN
TP. ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 22/8/2022
V/v: “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGŨ HÀNH SƠN, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Trâm

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tuấn Ngọc

Ông Huỳnh Bá Dương

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Trang- Thư ký TAND quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngũ Hành Sơn tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoà- Kiểm sát viên.

Ngày 22/8/2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 21/2022/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 3 năm 2022 về tranh chấp: “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 28/6/2022, Quyết định hoãn phiên tòa số 11/2022/QĐST-HPT ngày 28/7/2022 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Trần Thị Như P – Sinh năm: 1981 – Nơi ĐKHKTT: K28/2 đường S, quận N, Tp.Đà Nẵng- Địa chỉ liên hệ: Số 20 đường H, phường H, quận N, Tp Đà Nẵng. Có mặt.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Viết H - Sinh năm: 1992 – Trú tại: K28/2 đường S, quận N, Tp.Đà Nẵng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, tại bản tự khai và quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn bà Trần Thị Như P trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Như P và ông Nguyễn Viết H xây dựng gia đình với nhau vào năm 2006. Hôn nhân tự nguyện, có thời gian tìm hiểu nhau, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam. Sau khi kết hôn, vợ chồng ông, bà chung sống tại K28/2 S, quận N, Tp. Đà Nẵng. Chung sống đến năm 2007 thì giữa vợ chồng bà phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do ông H có hành vi dùng vũ lực đối với bà; đỉnh điểm là vào năm 2020 ông H thường xuyên đánh đập và gây thương tích cho bà nhiều lần. Mâu thuẫn của ông bà đã được gia đình hòa giải nhưng không có kết quả. Ông H và bà P đã sống ly thân từ năm 2021 cho đến nay, không ai quan tâm chăm sóc nhau trong cuộc sống. Nay xét thấy mục đích hôn nhân không đạt được, tình cảm của bà P đối với ông Nguyễn Viết H không còn, do đó bà xin được ly hôn với ông Nguyễn Viết H.

- Về quan hệ con chung: Bà Trần Thị Như P xác định bà và ông Nguyễn Viết H có 03 con chung là: Nguyễn Trần Gia H, sinh ngày: 17/01/2008; Nguyễn Trần Tố N, sinh ngày: 09/9/2011 và Nguyễn Trần Kiến Q, sinh ngày: 08/4/2016. Ly hôn, bà Trần Thị Như P có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con Nguyễn Trần Kiến Q cho đến khi con đủ 18 tuổi; giao con Nguyễn Trần Gia H và Nguyễn Trần Tố N cho ông Nguyễn Viết H được trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi các con đủ 18 tuổi. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con.

- Về quan hệ tài sản chung: Bà Trần Thị Như P xác định không có.

- Về nợ chung: Bà Trần Thị Như P xác định không có.

* Đối với bị đơn – ông Nguyễn Viết H: Mặc dù đã được Tòa án đã giao hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, các thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng ông Nguyễn Viết H đều vắng mặt và không có ý kiến phản hồi nên không ghi nhận được ý kiến của ông về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ngũ Hành Sơn phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án. Theo đó, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và nguyên đơn đã tuân thủ đúng pháp luật, riêng bị đơn ông Nguyễn Viết H không chấp hành triệu tập của Tòa án, chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật. Về nội dung vụ án, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ngũ Hành Sơn đề nghị Hội đồng xét xử:

- Về quan hệ hôn nhân: Áp dụng điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Trần Thị Như P đối với ông Nguyễn Viết H.

- Về quan hệ con chung: Áp dụng điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình giao con chung Nguyễn Trần Gia H, sinh ngày: 17/01/2008; Nguyễn Trần Tố N, sinh ngày: 09/9/2011 cho ông Nguyễn Viết H được trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi các con đủ 18 tuổi; Nguyễn Trần Gia H, sinh ngày: 17/01/2008 cho bà Trần Thị Như P được trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi. Do bà Trần Thị Như P không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không đề cập giải quyết.

- Về tài sản chung: Bà Trần Thị Như P xác định tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.

- Về nợ chung: Bà Trần Thị Như P xác định vợ chồng không có nợ chung

Tại phiên tòa ông Nguyễn Viết H vắng mặt nên để đảm bảo quyền lợi cho các bên đương sự đề nghị HĐXX không xem xét giải quyết về tài sản chung và nợ chung.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, sau khi nghe các đương sự trình bày ý kiến; sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm về vụ án, sau khi thảo luận và nghị án, HĐXX nhận định:

Về thủ tục: Đơn khởi kiện của bà Trần Thị Như P nộp tại Tòa án là đúng thủ tục và thẩm quyền được quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Ông Nguyễn Viết H là bị đơn trong vụ án, đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng ông Nguyễn Viết H vẫn vắng mặt. Hội đồng xét xử căn cứ điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt bị đơn.

Về nội dung: Bà Trần Thị Như P và ông Nguyễn Viết H đăng ký kết hôn vào năm 2006 tại UBND xã Điện An, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam theo giấy chứng nhận kết hôn số: 45, cấp ngày 05/7/2006. Hôn nhân tự nguyện, có thời gian tìm hiểu nhau. Đây là cuộc hôn nhân hợp pháp nên được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Sau khi kết hôn, vợ chồng ông, bà chung sống tại K28/2 Sư Vạn Hạnh, quận Ngũ Hành Sơn, Tp. Đà Nẵng. Chung sống đến năm 2007 thì giữa vợ chồng bà phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do ông H có hành vi dùng vũ lực đối với bà; đỉnh điểm là vào năm 2020 ông H thường xuyên đánh đập và gây thương tích cho bà nhiều lần. Mâu thuẫn của ông bà đã được gia đình hòa giải nhưng không có kết quả. Ông H và bà P đã sống ly thân từ năm 2021 cho đến nay, không ai quan tâm chăm sóc nhau trong cuộc sống. Nay bà Trần Thị Như P xác định không còn yêu thương ông Nguyễn Viết H nữa, bà xin được ly hôn.

Xét yêu cầu xin ly hôn của bà Trần Thị Như P đối với ông Nguyễn Viết H thì thấy: Hạnh phúc gia đình chỉ thật sự có được dựa trên sự yêu thương, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau, thế nhưng giữa bà Trần Thị Như P và ông Nguyễn Viết H lại không làm được điều này. Khi mâu thuẫn xảy ra hai bên không tìm được cách giải quyết đề hàn gắn và xây dựng gia đình. Qua xác minh tại địa phương thì được biết hiện tại bà P và ông H không còn chung sống với nhau nữa. Mặt khác, bà P cũng đã hai lần gửi đơn khởi kiện ly hôn tại Toà án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn nhưng sau đó vì thương con cái bà P đã rút đơn khởi kiện. Tuy nhiên, đến nay mâu thuẫn thực sự trầm trọng, bà P không thể tiếp tục cuộc hôn nhân này nữa. Về phía ông Nguyễn Viết H, Tòa án đã tạo điều kiện nhiều lần để vợ chồng hòa giải mâu thuẫn, trở về đoàn tụ chung sống với nhau nhưng ông Nguyễn Viết H đều vắng mặt tại các phiên hòa giải. Việc này cho thấy ông Nguyễn Viết H không tôn trọng Tòa án và thờ ơ với việc hàn gắn hạnh phúc gia đình, không có thiện chí níu kéo mối quan hệ hôn nhân của mình. Xét thấy, mâu thuẫn của bà Trần Thị Như P và ông Nguyễn Viết H đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên HĐXX chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Trần Thị Như P đối với ông Nguyễn Viết H là phù hợp quy định tại Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Bà Trần Thị Như P xác định bà và ông Nguyễn Viết H có 03 con chung là: Nguyễn Trần Gia H, sinh ngày: 17/01/2008; Nguyễn Trần Tố N, sinh ngày: 09/9/2011 và Nguyễn Trần Kiến Q, sinh ngày: 08/4/2016. Ly hôn, bà Trần Thị Như P có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con Nguyễn Trần Kiến Q cho đến khi con đủ 18 tuổi; giao con Nguyễn Trần Gia H và Nguyễn Trần Tố N cho ông Nguyễn Viết H được trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi các con đủ 18 tuổi. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con.

Xét yêu cầu của bà P về việc nuôi con chung thì thấy: Việc giao con cho ai trông nom, nuôi dưỡng đều phải dựa vào quyền lợi mọi mặt của con, đảm bảo được sự phát triển của con cả về thể chất lẫn tinh thần. Từ khi ông bà ly thân cho đến nay, cháu Nguyễn Trần Kiến Q được bà P chăm sóc, nuôi dưỡng, còn cháu Nguyễn Trần Gia H và Nguyễn Trần Tố N do ông H chăm sóc, nuôi dưỡng. Hiện tại, các cháu đã ổn định cuộc sống và môi trường học tập nên cần chấp nhận yêu cầu của bà P về việc nuôi con chung như trên là phù hợp với nguyện vọng của con chung, phù hợp với tình hình thực tế, phù hợp với quy định tại các Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Đối với việc cấp dưỡng nuôi con: Do bà P không yêu cầu nên HĐXX không đề cập giải quyết.

Về tài sản chung: Bà Trần Thị Như P xác định tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về nợ chung: Bà Trần Thị Như P xác định vợ chồng bà không có nợ chung.

Ông Nguyễn Viết H vắng mặt nên không ghi nhận được kiến của ông về tài sản chung và nợ chung. Do vậy, để đảm bảo quyền lợi cho các bên đương sự, HĐXX không xem xét giải quyết. Nếu các đương sự có tranh chấp về tài sản chung và nợ chung thì sẽ giải quyết bằng một vụ án khác.

Án phí HNGĐ sơ thẩm: 300.000 đồng bà Trần Thị Như P phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Căn cứ Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc "Ly hôn " của bà Trần Thị Như P đối với ông Nguyễn Viết H.

Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Trần Thị Như P được ly hôn ông Nguyễn Viết H.

Do chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Trần Thị Như P đối với ông Nguyễn Viết H nên giấy chứng nhận kết hôn số 45 do xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quang Nam (nay là xã Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam) cấp cho bà Trần Thị Như P và ông Nguyễn Viết H ngày 05/7/2006 không còn giá trị pháp lý.

2. Về quan hệ con chung: Giao con chung con Nguyễn Trần Kiến Q – Sinnh ngày: 08/4/2016 cho bà Trần Thị Như P được trực tiếp nuôi dưỡng đến khi con đủ 18 tuổi; giao con Nguyễn Trần Gia H- Sinh ngày: 17/01/2008 và Nguyễn Trần Tố N- Sinh ngày: 09/9/2011 cho ông Nguyễn Viết H được trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi các con đủ 18 tuổi. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con.

Bên không trực tiếp nuôi con vẫn được thực hiện mọi quyền và nghĩa vụ đối với con chung, không ai được cản trở. Khi cần thiết vì lợi ích của con chung, các bên đều có quyền yêu cầu giải quyết về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.

3. Án phí HNGĐ-ST: 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) bà Trần Thị Như P phải chịu nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) bà Trần Thị Như P đã nộp tại biên lai thu số 1190 ngày 15/3/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng. Bà Trần Thị Như P đã nộp đủ án phí.

Án xử công khai sơ thẩm, các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản sao án hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự. người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người phải thi hành dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ