- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "TRẦN THỊ TUYẾT N TRANH CHẤP LY HÔN TRẦN TRỌNG S"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Tuyết N.
- Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY SƠN TỈNH BÌNH ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 15 /2022/HNGĐ-ST Ngày: 11/5/2022 V/v tranh chấp ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY SƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Triều.
Các Hội thẩm nhân dân:
1.Ông Đặng Văn Trị.
2. Ông Bùi Đức Thuận.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Mỹ Hiệp - Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Sơn tham gia phiên tòa: Bà Mai Thị Thìn – Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 5 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tây Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 61/2021/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 11 năm năm 2021 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2022/QĐST-HNGĐ ngày 22 tháng 3 năm 2022 và quyết định hoãn phiên tòa số 08/2022/DSST-HNGĐ ngày 21/4/2022, giữa các đương sự:
1.Nguyên đơn: Trần Thị Tuyết N, sinh năm 1999;
Địa chỉ: Xóm A, thôn P, xã T, huyện S, tỉnh Bình Định. Có mặt.
2. Bị đơn: Trần Trọng S, sinh năm 1990;
Địa chỉ: Xóm A, thôn P , xã T, huyện S, tỉnh Bình Định. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện (đơn yêu cầu ly hôn) và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn là chị Trần Thị Tuyết N bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Trần Trọng S là hôn nhân tự nguyện, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện S, tỉnh Bình Định vào ngày 09/7/2018. Vợ chồng hạnh phúc được thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống. Anh S có tính gia trưởng nhiều lần ghen tuông vô cớ đánh đập chị dã mang, chị đã nhiều lần khuyên nhủ anh bỏ những tật trên để lo làm ăn nuôi con khôn lớn; mặc dù chị cũng đã cho anh nhiều cơ hội để sửa sai nhưng anh S vẫn không sửa chữa khiến cho tình cảm vợ chồng ngày càng lạnh nhạt nên chị đã bỏ về nhà cha mẹ đẻ ở đầu tháng 10/2021 cho đến nay, vợ chồng đã sống ly thân và chị không còn tình cảm với anh S nữa. Nay chị xét thấy mâu thuẫn vợ chồng đã xảy ra trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng không còn tình cảm với nhau, đời sống vợ chồng không thể kéo dài nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết chị được ly hôn anh Trần Trọng S.
-Về con chung: Vợ chồng có 01 con tên Trần Kim N, giới tính: Nữ, sinh ngày 05/6/2018, con chung đang ở với chị. Khi ly hôn, chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung đến trưởng thành. Chị không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi chung.
-Về tài sản chung, nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn anh Đinh Trọng S vắng mặt lần thứ hai không có lý do:
Về các thủ tục giải quyết vụ án ly hôn đã được Tòa án nhân dân huyện Tây Sơn thực hiện việc cấp, tống đạt, thông báo, niêm yết các văn bản tố tụng theo đúng quy định tại Điều 177 của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Anh S đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để làm việc, hòa giải, tiếp cận và công khai chứng cứ nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, không có văn bản hoặc quan điểm gởi đến Tòa án; không cung cấp tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án. Như vậy anh S không xem trọng cuộc hôn nhân giữa anh và chị N. Nên Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.
Theo xác nhận ngày 23/11/2021 của Ủy ban nhân dân xã T, huyện S, tỉnh Bình Định: Anh Đinh Trọng S, sinh năm 1990, có hộ khẩu thường trú tại Thôn P, xã T, huyện S, tỉnh Bình Định. Anh S có mặt tại địa phương.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Sơn phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét từ khi Tòa thụ lý đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án là có căn cứ, đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự; việc chấp hành pháp luật tố tụng của các đương sự đúng theo quy định.
Bị đơn anh Đinh Trọng S đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 Tòa án vẫn tiến hành xét xử là đúng quy định của pháp luật.
Về nội dung vụ án: Vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 147, 227, 228, 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015; Áp dụng các Điều 8, 9, 56,71, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Tuyết N; Về hôn nhân: chị N được ly hôn anh Đinh Trọng S; Về con chung: giao con chung tên Trần Kim N, giới tính: Nữ, sinh ngày 05/6/2018 cho chị N tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo đến trưởng thành, anh Đinh Trọng S không phải cấp dưỡng nuôi con chung vì chị N không yêu cầu; Về tài sản chung, nợ chung: chị N không yêu cầu Tòa án giải quyết nên miễn xét; Án phí hôn nhân sơ thẩm: đương sự phải chịu theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là vụ án Hôn nhân và Gia đình khởi kiện ly hôn. Bị đơn anh Đinh Trọng S có đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay tại thôn P, xã T, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định. Do đó, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
Tại phiên tòa sơ thẩm, chị Trần Thị Tuyết N có mặt; Anh Đinh Trọng S đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ quy định tại Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
Về nội dung vụ án:
[2.1] Quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Tuyết N và anh Trần Trọng S là hôn nhân tự nguyện, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định vào ngày 09/7/2018 nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 8, 9 Luật hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Sau khi cưới, vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, anh Sơn có tính gia trưởng, nhiều lần ghen tuông vô cớ đánh đập chị dã man…,vợ chồng đã sống ly thân từ đầu tháng 10/2021 đến nay.
Tòa án nhân dân huyện Tây Sơn đã tiến hành xác minh tại Ủy ban nhân dân xã Tây Phú, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định vào ngày 23/11/2021. Theo Ủy ban nhân dân xã T cung cấp: Vợ chồng chị Trần Thị Tuyết Ng và anh Đinh Trọng S sau khi kết hôn vợ chồng chung sống ở thôn P, xã T, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định. Quá trình chung sống có xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, thường hay xảy ra tranh cãi, theo chị N báo cáo thì anh S có đánh chị. Hiện nay vợ chồng chị N, anh S không còn chung sống với nhau, đã sống ly thân được một thời gian. Anh S có mặt tại địa phương nhưng không đến Tòa.
Mặc dù anh Đinh Trọng S đã được Tòa án nhân dân huyện Tây Sơn tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập nhiều lần để làm việc, hòa giải tiếp cận và công khai chứng cứ và tham gia phiên tòa nhưng anh Sơn vẫn vắng mặt không có lý do. Việc anh S không đến Tòa làm việc, không có quan điểm gởi đến Tòa án chứng tỏ anh S không có trách nhiệm với hôn nhân của chính mình. Như vậy, có căn cứ xác định hôn nhân giữa chị Ng và anh S không có hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, hiện tại vợ chồng đã sống ly thân thời gian; do đó, căn cứ khoản 1 Điều 56 của luật Hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị N.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con tên Trần Kim N, giới tính: Nữ, sinh ngày 05/6/2018 hiện nay ở với chị N. Khi ly hôn, chị N yêu cầu được tiếp tục được chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung đến trưởng thành. Do đó, cần giao con chung Trần Kim N cho chị N tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến trưởng thành là phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị N không yêu cầu anh Sơn phải cấp dưỡng nuôi con nên miễn xét.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị N không yêu cầu Tòa án giải quyết nên miễn xét.
Về án phí ly hôn sơ thẩm: Căn cứ vào quy định tại Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị Quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội cần buộc chị Trần Thị Tuyết N phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào khoản tiền 300.000đ tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0007029 ngày 22/11/2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tây Sơn; chị N đã nộp xong án phí.
Lời phát biểu ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Sơn tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 273; Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015;
Áp dụng Điều 8, Điều 9, Điều 56, 71, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Áp dụng Nghị Quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Tuyết N.
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Tuyết N được ly hôn với anh Đinh Trọng S.
2. Về con chung: Giao con chung Trần Kim N, giới tính: Nữ, sinh ngày 05/6/2018 cho chị N tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến trưởng thành.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị N không yêu cầu nên miễn xét.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền đi đến thăm nom, chăm sóc, giúp đỡ con chung, không ai được ngăn cản. Vì lợi ích của con, khi cần thiết cả hai bên đều có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên miễn xét.
4.Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Trần Thị Tuyết N phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào khoản tiền 300.000đ tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0007029 ngày 2211/2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tây Sơn; chị N đã nộp xong án phí.
5. Quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Định; - VKSND huyện Tây Sơn; - Chi cục THA dân sự huyện Tây Sơn; - UBND xã Tây Phú; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thị Triều |