vanban.org

Bản án 15/2022/HNGD-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Lường Thị Ch: Chị Lường Thị Ch được ly hôn anh Lường Văn T. Về con chung: Giao cháu Lường Thị Bảo T, sinh ngày 02/12/2015 cho chị Ch trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi cháu đủ 18 tuổi và có khả năng lao động. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lường Thị Ch xin ly hôn Lường Văn T"
  • Tòa quyết gì? Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MƯỜNG ẢNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐIỆN BIÊN
Bản án số: 15/2022/HNGD-ST
Ngày 08 tháng 8 năm 2022
“V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi
con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG ẢNG, TỈNH ĐIỆN BIÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vân

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông: Vừ A Sinh

2. Bà: Mai Thị Trường

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Lục - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Ảng tham gia phiên tòa: Ông Phạm Duy Thanh – Kiểm sát viên

Ngày 08 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 68/2022/TLST-HN&GĐ ngày 10 tháng 5 năm 2022 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 7 năm 2022; Quyết định hoãn phiên tòa số: 12/2022/QĐST-HNGĐ, ngày 22 tháng 7 năm 2022 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Lường Thị Ch, sinh năm 1996

Nơi cư trú: Bản Co S, xã AC, huyện MA, tỉnh Điện Biên (Có mặt).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho chị Ch: Bà Lò Thị Khánh H, Trợ giúp viên pháp lý, nơi công tác Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Điện Biên (Có mặt)

Bị đơn: Anh Lường Văn T, sinh năm 1993

Nơi cư trú: Bản HN, xã AC, huyện MA, tỉnh Điện Biên (Vắng mặt không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn Xin ly hôn đề ngày 09/5/2022; tại bản tự khai ngày 13/5/2022 nguyên đơn chị Lường Thị Ch trình bày:

* Về hôn nhân: Tôi (Ch) và anh Lường Văn T tổ chức đám cưới theo phong tục địa phương và làm thủ tục đăng ký kết hôn tại UBND xã AC, huyện MA, tỉnh Điện Biên vào ngày 25/9/2015. Trước khi lấy nhau hai bên tự tìm hiểu, tự nguyện yêu nhau, quá trình tìm hiểu không có sự tác động của bên ngoài. Sau khi cưới, tôi và anh T sống tại Bản HN, xã AC, huyện MA. Cuộc sống chung của vợ chồng tôi đầm ấm, hạnh phúc được khoảng 04 năm thì phát sinh rất nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống. Tôi phát hiện anh T nghiện chất ma túy, không quan tâm chăm lo cho gia đình. Tôi và hai bên gia đình nội, ngoại đã nhiều lần khuyên anh T từ bỏ chất ma túy nhưng anh T vẫn không từ bỏ nên vợ chồng tôi thường xuyên xẩy ra mâu thuẫn cãi vã. Do mâu thuẫn kéo dài nên từ tháng 03 năm 2020 tôi đã chuyển về cùng sống với bố mẹ đẻ tại Bản Co S, xã AC, huyện MA và chúng tôi ly thân từ đó đến nay. Nay tôi xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, tôi đề nghị Tòa án nhân dân huyện Mường Ảng giải quyết cho tôi được ly hôn với anh Lường Văn T.

* Về con chung: Trong quá trình chung sống tôi và anh Lường Văn T có 01 người con chung là cháu Lường Thị Bảo T, sinh ngày 02/12/2015. Hiện cháu T đang ở cùng với tôi tại Bản Co S, xã AC, huyện MA, tỉnh Điện Biên. Nguyện vọng của tôi về việc giải quyết con chung là là sau khi ly hôn tôi được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu T cho đến khi cháu đủ 18 tuổi. Về cấp dưỡng nuôi con chung, tôi không yêu cầu Toà án giải quyết.

* Về tài sản chung, tài sản riêng, nợ chung phải trả, nợ chung thu về: Tôi và anh T không có.

* Bị đơn: Anh Lường Văn T mặc dù được Tòa án triệu tập nhiều lần và đúng quy định của pháp luật nhưng anh T vẫn vắng mặt.

* Trong quá trình giải quyết vụ án: Tòa án đã tiến hành xác minh nơi đăng ký hộ khẩu thường trú của anh Lường Văn T; xác minh nguyên nhân của việc phát sinh mâu thuẫn của chị Ch và anh T và xác minh điều kiện kinh tế của chị Lường Thị Ch.

Trong quá trình thụ lý giải quyết chị Ch có đơn yêu cầu Tòa án không tiến hành hòa giải.

* Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày: Yêu cầu của chị Ch là có căn cứ và hợp pháp. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Ch cụ thể như sau:

Thứ nhất về hôn nhân: Chị Ch và anh T tổ chức đám cưới theo phong tục địa phương và làm thủ tục đăng ký kết hôn vào ngày 25/9/2015 tại UBND xã AC, huyện MA, tỉnh Điện Biên trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện. Trong quá trình chung sống chị Ch và anh T chung sống đầm ấm, hạnh phúc được khoảng 04 năm thì phát sinh rất nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, sau đó chị Ch phát hiện anh T nghiện chất ma túy, không quan tâm chăm lo cho gia đình. Chị Ch và hai bên gia đình nội, ngoại đã nhiều lần khuyên anh T từ bỏ chất ma túy nhưng anh T vẫn không từ bỏ nên vợ chồng chị thường xuyên xẩy ra mâu thuẫn cãi vã. Do mâu thuẫn kéo dài nên từ tháng 03 năm 2020 chị Ch đã chuyển về cùng sống với bố mẹ đẻ tại Bản Co S, xã AC, huyện MA. Vợ chồng anh chị đã sống ly thân, không còn thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau, ai biết bổn phận của người đó, điều này chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa chị Ch và anh T đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân hôn nhân không đạt được. Vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Ch và tuyên bố chị Ch được ly hôn anh T.

Thứ hai về con chung: Chị Ch và anh T có 01 người con chung là cháu Lường Thị Bảo T, sinh ngày 02/12/2015. Nguyện vọng của chị Ch sau khi ly hôn, chị được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu T cho đến khi cháu đủ 18 tuổi và không yêu cầu Tòa án giải quyết về việc cấp dưỡng nuôi con chung. Đề nghị Hội đồng xét xử cần chấp nhận nguyện vọng của chị Ch về việc giao nuôi con chung cũng như vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung.

Thứ ba: Trong quá trình chung sống chị Ch và anh T không có tài sản chung; nợ chung phải trả, nợ chung lấy về: không có.

Về án phí: Chị Ch là người dân tộc thiểu số và có đơn xin miễn án phí. Đề nghị Hội đồng xét xử Áp dụng điểm đ khoản 1 điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án miễn toàn bộ án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm cho chị Ch .

* Quan điểm của đại diện VKSND huyện Mường Ảng: Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự từ giai đoạn thụ lý đến giai đoạn chuẩn bị xét xử vụ án, xác định quan hệ pháp luật, tư cách người tham gia tố tụng, thời hạn chuẩn bị xét xử, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, thời hạn chuyển hồ sơ cho VKS nghiên cứu, tống đạt các văn bản tố tụng.

Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng thủ tục tố tụng, sự có mặt của các thành viên Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa, thủ tục phiên tòa theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc chấp hành của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa theo quy định tại các Điều 227, 234 Bộ luật tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa ngày hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên đề nghị Hội đồng xét xử:

- Về hôn nhân: Tuyên bố chị Lường Thị Ch được ly hôn anh Lường Văn T.

- Con chung: Giao cháu Lường Thị Bảo T, sinh ngày 02/12/2015 cho chị Ch trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi cháu đủ 18 tuổi và có khả năng lao động. Chị Ch không yêu cầu Tòa án giải quyết về việc cấp dưỡng nuôi con chung.

- Tài sản chung, nợ phải trả, nợ lấy về: Không có.

- Án phí: Miễn án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm cho chị Ch.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích của đương sự, ý kiến của đại diện VKSND huyện Mường Ảng. Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Đây là vụ án về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

Ngày 10/5/2022, Tòa án nhân dân huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên thụ lý vụ án về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. Tòa án ra Thông báo thụ lý vụ án và tống đạt cho bị đơn là anh Lường Văn T, anh T vắng nhà, Tòa án đã tiến hành niêm yết theo quy định của pháp luật. Hết thời hạn 15 ngày Bị đơn không có ý kiến gì.

Tòa án ra thông báo về Phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, đã tiến hành tống đạt theo quy định của pháp luật nhưng bị đơn không có mặt tại phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải.

Ngày 29/6/2022 chị Lường Thị Ch có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải. Căn cứ khoản 4 Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án không tiến hành hòa giải được lần 2.

Tòa án ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử, tống đạt hợp lệ Quyết định theo quy định của pháp luật. Tại phiên tòa ngày 22/7/2022, Nguyên đơn là chị Lường Thị Ch có mặt, bị đơn là anh Lường Văn T vắng mặt không có lý do lần thứ nhất, căn cứ khoản 1 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa và ấn định thời gian xét xử lại vào ngày 08/8/2022.

Tại phiên tòa ngày hôm nay, Nguyên đơn là chị Lường Thị Ch có mặt; Bị đơn là anh Lường Văn T vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định đưa vụ án ra xét xử vắng mặt anh T.

Nội dung vụ án:

* Về hôn nhân: Theo đơn Xin ly hôn đề ngày 09/5/2022; tại bản tự khai ngày 13/5/2022 của nguyên đơn là chị Lường Thị Ch và lời trình bày của chị Lường Thị Ch tại phiên tòa và các chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ. Hội đồng xét xử xét thấy: Chị Ch và anh T lấy nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn vào ngày 25/9/2015 tại UBND xã AC, huyện MA, tỉnh Điện Biên. Trong quá trình chung sống chị Ch và anh T chung sống đầm ấm, hạnh phúc được khoảng 04 năm thì phát sinh rất nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, sau đó chị Ch phát hiện anh T nghiện chất ma túy, không quan tâm chăm lo cho gia đình. Mặc dù mâu thuẫn của vợ chồng anh chị đã được hai bên gia đình hoà giải, khuyên can nhiều lần nhưng cuộc sống chung của vợ chồng không được cải thiện mà ngày càng lâm vào tình trạng trầm trọng, chị Ch và anh T đã sống ly thân. Xét thấy, vợ chồng anh chị đã sống ly thân, không còn thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau, ai biết bổn phận của người đó, điều này chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa chị Ch và anh T đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 điều 51 và khoản 1 điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của chị Lường Thị Ch. Tuyên xử cho chị Lường Thị Ch được ly hôn với anh Lường Văn T.

* Về con chung: Chị Lường Thị Ch và anh Lường Văn T có 01 người con chung là cháu Lường Thị Bảo T, sinh ngày 02/12/2015.

Chị Ch có nguyện vọng sau khi ly hôn, chị được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu T đến khi cháu đủ 18 tuổi.

Hội đồng xét xử xét thấy hiện nay cháu Lường Thị Bảo T đang sống cùng mẹ từ khi vợ chồng chị Ch, anh T sống ly thân, cháu vẫn còn nhỏ nên để không gây xáo trộn về tâm lý đồng thời đảm bảo cho sự phát triển về tinh thần cũng như quyền lợi về mọi mặt của cháu, cần tiếp tục giao cháu cho chị Ch trực tiếp chăm nom, chăm sóc, giáo dục cháu T đến khi cháu đủ 18 tuổi và có khả năng lao động.

Chị Ch không yêu cầu Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con chung, nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét.

Vì vậy, Hội đồng xét xử cần chấp nhận nguyện vọng của chị Ch về việc giao nuôi con chung cũng như vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung.

* Tài sản chung; tài sản riêng; nợ phải trả; nợ thu về: Không có, Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét.

Về án phí: Chị Ch là người dân tộc thiểu số và có đơn xin miễn án phí. Áp dụng khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Hội đồng xét xử miễn án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm không có giá ngạch cho chị Ch.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào:

Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của BLTTDS.

Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình.

Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Lường Thị Ch: Chị Lường Thị Ch được ly hôn anh Lường Văn T.

2. Về con chung: Giao cháu Lường Thị Bảo T, sinh ngày 02/12/2015 cho chị Ch trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi cháu đủ 18 tuổi và có khả năng lao động.

Nghĩa vụ về cấp dưỡng nuôi con chung sau khi ly hôn: Chị Ch không yêu cầu Tòa án giải quyết cấp dưỡng nuôi con chung.

Anh T có quyền đi lại, thăm nom con chung, không ai được cản trở quyền này. Vì lợi ích của con chung, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên; người thân thích; Cơ quan quản lý Nhà nước về gia đình; Cơ quan quản lý Nhà nước về trẻ em; Hội liên hiệp phụ nữ thì Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con chung.

3. Về tài sản chung, tài sản riêng, nợ chung phải trả, nợ chung lấy về: Không có.

4. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Miễn toàn bộ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm không có giá ngạch cho chị Lường Thị Ch.

5. Án xử công khai sơ thẩm, kết thúc cùng ngày. Chị Lường Thị Ch được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tuyên án; anh Lường Văn T được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người vắng mặt.

Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự; người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ