vanban.org

Bản án 15/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tân-Thức"
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHƯ PRÔNG
TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 15/2022/HNGĐ - ST
Ngày 05/7/2022
“V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯ PRÔNG, TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Nhiều.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trương Công Chự và ông Nguyễn Ngọc Bình.

- Thư ký phiên tòa: Ông Hà Đức Quang – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Prông – Gia Lai tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Nhất Linh – Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 7 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 78/2022/TLST-HNGĐ, ngày 04 tháng 4 năm 2022 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 5 năm 2022, Quyết định hoãn phiên tòa số 06/2022/QĐST-HNGĐ ngày 15 tháng 6 năm 2022 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Phạm Thị Hồng Tân, sinh năm 1985.

Trú tại: Thôn Đồng Tâm, xã Bàu Cạn, huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai. Có

đơn xin xét xử vắng mặt.

Bị đơn: Anh Trần Trọng Thức, sinh năm 1985.

Trú tại: Thôn Đồng Tâm, xã Bàu Cạn, huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt lần thứ hai không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Trong đơn khởi kiện, tại bản tự khai, biên bản hòa giải, nguyên đơn chị Phạm Thị Hồng Tân trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Tôi và anh Trần Trọng Thức qua tìm hiểu tự nguyện có đăng ký kết hôn tại UBND xã Bàu Cạn, huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai vào ngày 23/5/2005, bước đầu sống chung hạnh phúc, nhưng sau này mâu thuẫn thường xuyên xảy ra. Nguyên nhân là do vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, mặc dù đã hai bên gia đình khuyên nhủ nhiều lần nhưng vợ chồng không thể quay lại sống với nhau được, hiện tại chúng tôi ly thân từ năm 2016 đến nay không quan tâm gì đến cuộc sống của nhau nữa. Nay tôi cảm thấy tình cảm vợ chồng không còn nữa, mục đích hôn nhân không đạt được, nên tôi đề nghị Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với anh Thức.

Về con chung: Tôi và anh Thức có 02 con chung là Trần Minh Phi, sinh ngày 16/8/2005 và cháu Trần Bảo Thy sinh ngày 10/6/2008 hiện cả hai con đang ở với anh Thức. Ly hôn tôi nhất trí tiếp tục giao 02 con chung cho anh Thức tiếp tục nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con chung tôi không yêu cầu Tòa giải quyết.

Về tài sản chung và thực hiện nghĩa vụ về tài sản: Tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn anh Trần Trọng Thức: Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo về phiên hòa giải, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, thông báo về việc nêu ý kiến đối với phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng anh Thức không đến Tòa án để làm việc, không cung cấp cho Tòa án văn bản để trình bày quan điểm ý kiến về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và các tài liệu chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình.

Quá trình kiểm sát việc giải quyết vụ án, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Prông có quan điểm như sau:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm quyền giải quyết, xác định tư cách pháp lý người tham gia tố tụng trong vụ án và Toà án ban hành thông báo thụ lý vụ án, gửi thông báo cũng như tiến hành các thủ tục mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải, thu thập chứng cứ cũng như tống đạt văn bản tố tụng và đưa vụ án ra xét xử đúng thời hạn luật định. Việc tuân theo pháp luật của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, việc chấp hành pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Căn cứ các Điều 4, 5, 6; khoản 1, 5 Điều 28, khoản 1 Điều 35, Điều 39, điểm a, b khoản 2 Điều 227, của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và Điều 51, Điều 56, Điều 81, 82 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Đề nghị Hội đồng xét xử:

Về hôn nhân: Chị Phạm Thị Hồng Tân và anh Trần Trọng Thức được ly hôn trước pháp luật.

Về con chung: Có 02 con chung là Trần Minh Phi, sinh ngày 16/8/2005 và cháu Trần Bảo Thy sinh ngày 10/6/2008. Trong quá trình giải quyết vụ án chị Tân đồng ý để anh Thức được tiếp tục nuôi cháu Phi và cháu Thy và cũng là nguyện vọng của cháu Phi và Thy được ở với anh Thức nên đề nghị HĐXX giao cháu Phi và Thy cho anh Thức được trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng: Trong quá trình giải quyết vụ án chị Tân không yêu cầu Tòa án giải quyết về việc cấp dưỡng nuôi con chung cũng như anh Thức không có ý kiến gì nên đề nghị HĐXX không xem xét.

Về tài sản chung và thực hiện các nghĩa vụ chung về tài sản: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên đề nghị HĐXX không xem xét.

Về án phí: Chị Tân phải nộp án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, HĐXX xét thấy:

[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Đây là vụ án về ly hôn, tranh chấp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con quy định tại khoản 1 và 5 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn chị Phạm Thị Hồng Tân và bị đơn anh Trần Trọng Thức cùng có nơi cư trú tại huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai nên Tòa án nhân dân huyện Chư Prông thụ lý và giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về thủ tục tố tụng: Đối với nguyên đơn chị Phạm Thị Hồng Tân ngày 24/6/2022 đã có đơn xin xét xử vắng mặt, trong đơn xin xét xử vắng mặt chị Tân trình bày vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, ý kiến như trong bản tự khai và biên bản hòa giải. Đối với bị đơn anh Trần Trọng Thức đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Do vậy, HĐXX quyết định xét xử vắng mặt, nguyên đơn và bị đơn là đúng với quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Hội đồng xét xử nhận thấy việc kết hôn giữa chị Tân và anh Thức ngày 23/05/2005 tại Uỷ ban nhân dân xã Bàu Cạn, huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai là hoàn toàn tự nguyện, đúng pháp luật, không bị lừa dối, ép buộc, không vi phạm điều kiện kết hôn nên đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tóa án theo quy định tại Điều 173 của Bộ luật tố tụng dân sự, nhưng anh Thức không đến Toà án để làm việc, không cung cấp cho Toà án văn bản trình bày ý kiến cũng như các chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình. Như vậy, căn cứ Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự thì anh Thức đã từ bỏ quyền chứng minh của mình đối với vụ án và không phản đối những tài liệu, chứng cứ mà nguyên đơn giao nộp cho Tòa án. Điều này chứng tỏ anh Thức không có trách nhiệm đối với hôn nhân của mình, không có thiện chí trong việc giải quyết mâu thuẫn gia đình và hàn gắn tình cảm vợ chồng và phù hợp với lời trình bày có xác nhận của chính quyền địa phương về tình trạng hôn nhân giữa chị Tân và anh Thức. Do vậy, căn cứ khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Tân đối với anh Thức.

[4] Về nuôi con: Chị Tân và anh Thức có 02 con chung là Trần Minh Phi, sinh ngày 16/8/2005 và cháu Trần Bảo Thy sinh ngày 10/6/2008. Trong quá trình giải quyết vụ án chị Tân đồng ý để anh Thức được tiếp tục nuôi cháu Phi và cháu Thy và cũng là nguyện vọng của cháu Phi và Thy được anh Thức tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết giao cháu Trần Minh Phi và cháu Trần Bảo Thy cho anh Thức được trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

[5] Về cấp dưỡng: Trong quá trình giải quyết vụ án chị Tân không yêu cầu Tòa án giải quyết về việc cấp dưỡng nuôi con chung cũng như anh Thức không có ý kiến gì về việc cấp dưỡng nuôi con chung nên HĐXX không xem xét.

[6] Về tài sản chung và thực hiện các nghĩa vụ chung về tài sản: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên HĐXX không xem xét.

[7] Về án phí: Chị Tân phải nộp án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 4, 5, 6; khoản 1, 5 Điều 28, khoản 1 Điều 35, Điều 39, điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 266 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

Áp dụng Điều 9, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị Hồng Tân được ly hôn với anh Trần Trọng Thức.

2. Về con chung: Giao 02 con chung là Trần Minh Phi, sinh ngày 16/8/2005 và Trần Bảo Thy sinh ngày 10/6/2008 cho anh Thức được tiếp tục trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cho đến khi các con thành niên hoặc đã thành niên nhưng mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

3. Về cấp dưỡng: Nguyên đơn chị Phạm Thị Hồng Tân không yêu cầu Tòa án giải quyết về việc cấp dưỡng nuôi con chung cũng như bị đơn anh Trần Trọng Thức không có ý kiến gì về việc cấp dưỡng nuôi con chung nên HĐXX không xem xét.

Người không trực tiếp nuôi dưỡng con vẫn có quyền đến thăm nom con, người trực tiếp nuôi con không được cản trở nếu họ không lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con của người trực tiếp nuôi con.

Vì lợi ích của con, trong trường hợp người trực tiếp nuôi con không đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con, theo yêu cầu của một hoặc hai bên, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con. Hai đương sự đều có quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo quy định của pháp luật.

4. Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Phạm Thị Hồng Tân phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp trước đây là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 0006448 ngày 04 tháng 4 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai. Chị Phạm Thị Hồng Tân đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

5. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ