vanban.org

Bản án 15/2022/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Tr T L, buộc chị V T NH và anh N C T có trách nhiệm liên đới hoàn trả cho bà Tr T L số tiền nợ vay gốc 80.

Kể từ ngày bà Tr T L có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, chị V T NH và anh N C T còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Về án phí dân sự sơ thẩm: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "tranh chap hđ vay tai san giua ba L va N, T"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Tr T L, buộc chị V T NH và anh N C T có trách nhiệm liên đới hoàn trả cho bà Tr T L số tiền nợ vay gốc 80.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÂN BIÊN
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2022/DS-ST
Ngày 25-4-2022
V/v tranh chấp hợp đồng
dân sự về vay tài sản

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN BIÊN

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tuấn.

- Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Văn Tảo;

2. Bà Trần Thị Bạch Tuyết.

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Trung Lợi - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Vịnh – Kiểm sát viên.

Ngày 25/4/2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 233/2021/TLST- DS ngày 10/11/2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2022/QĐXX-ST ngày 11 tháng 3 năm 2022 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Tr T L, sinh năm 1964; cư trú tại: Ấp D, xã M C, huyện T B, tỉnh Tây Ninh. Vắng mặt.

- Bị đơn: Chị V T NH, sinh năm 1995 và anh N C T, sinh năm 1990; cùng cư trú tại: Ấp X, xã T, huyện TB, tỉnh Tây Ninh. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện gửi đến Tòa án ngày 10/11/2021 và trong quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn – bà Tr T L trình bày:

Do có mối quan hệ quen biết từ việc chị N, anh Th thường xuyên mua thuốc uống tại quầy thuốc của con gái bàL nên bàL có 02 lần cho vợ chồng N và Th vay tiền, cụ thể:

Vào ngày 23/01/2020 (âm lịch), bàL cho vay số tiền 10.000.000 (mười triệu) đồng, việc vay có làm giấy nợ “BIÊN NHẬN”, anh Th điện thoại vay và N trực tiếp đến nhà bà nhận tiền và ký tên người vay tiền, trong giấy nợ không thỏa thuận về lãi suất và thời hạn trả nhưng có thỏa thuận bằng lời nói bên ngoài là lãi suất 3%/tháng, mục đích vay tiền để trị bệnh cho con và chi tiêu gia đình, thời hạn trả là vài tháng trả lại, bàL có nhận tiền lãi đối với số tiền này nhưng không có ký nhận, không nhớ số lần, số tiền cụ thể đã nhận vì N, Th đưa tiền lãi không đúng thỏa thuận về thời gian, số tiền lãi, vì thấy chị N và anh Th có hoàn cảnh khó khăn nên bàL cũng không đòi tiền lãi nhưng có yêu cầu trả tiền vay gốc.

Vào ngày 06/9/2021 (âm lịch), bàL tiếp tục cho vợ chồng N và Th vay số tiền gốc 70.000.000 (bảy mươi triệu) đồng, việc vay có làm giấy nợ “BIÊN NHẬN”, N và Th ký tên người vay, trong giấy nợ không thỏa thuận về lãi suất và thời hạn trả nhưng có thỏa thuận bằng lời nói bên ngoài là lãi suất 3%/tháng, mục đích vay tiền để canh tác nông nghiệp (trồng mì), khi nào thu hoạch thì trả tiền gốc và lãi cho bàL, bàL tiếp tục cho vay số tiền này để tạo điều kiện cho chị N và anh Th canh tác thu hoạch vụ mùa mà có tiền trả lại cho bà luôn lần vay trước, nhưng khi nhận tiền xong thì bàL biết tin anh Th, chị N chi tiêu cá nhân, không canh tác vụ mùa, bàL đòi tiền nhiều lần nhưng N và Th lẫn tránh.

Nay bà Tr T L yêu cầu chị V T NH và anh N C T trả lại số tiền vay gốc 80.000.000 đồng, không yêu cầu tính tiền lãi.

Bị đơn – chị V T NH và anh N C T vắng mặt địa phƣơng, không biết địa chỉ cƣ trú mới nên Tòa án tiến hành niêm yết, xét xử vắng mặt chị N, anh Th.

Tài liệu, chứng cứ đƣơng sự giao nộp:

Nguyên đơn bàL giao nộp:

01 giấy “BIÊN NHẬN” ngày 23/01/2020 (âm lịch) số tiền vay gốc 10.000.000 đồng, địa chỉ người vay: Ấp Xóm Tháp, xã Tân Phong, huyện Tân Biên, Tây Ninh.

01 giấy “BIÊN NHẬN” ngày 06/9/2021 (âm lịch) số tiền vay gốc 70.000.000 đồng, địa chỉ người vay: Ấp Xóm Tháp, xã Tân Phong, huyện Tân Biên, Tây Ninh.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

- Bà Tr T L, chị V T NH, anh N C T vắng mặt.

- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh:

+ Về thủ tục thụ lý, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng đã đảm bảo theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

+ Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn: Buộc chị V T NH và anh N C T có trách nhiệm hoàn trả cho bà Tr T L số tiền nợ gốc 80.000.000 (tám mươi triệu) đồng, ghi nhận bàL không yêu tính tiền lãi.

Chị V T NH và anh N C T phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

+ Về kiến nghị khắc phục: Không.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa. Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh nhận định:

. Về tố tụng:

[1.1]. Về sự vắng mặt của các đương sự: Bà Tr T L có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; chị V T NH và anh N C T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, căn cứ vào các khoản 1 và 3, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bàL, chị N, anh Th

. Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

Bà Tr T L yêu cầu chị V T NH và anh N C T trả số tiền vay gốc 80.000.000 đồng, chị N và anh Th có địa chỉ cư trú khi thực hiện việc vay tiền là ấp Xóm Tháp, xã Tân Phong, huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh. Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp dân sự về hợp đồng vay tài sản” được quy định tại Điều 463 Bộ luật Dân sự, căn cứ khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh.

. Về nội dung:

Xét yêu cầu của bà Tr T L về việc yêu cầu chị V T NH và anh N C T có trách nhiệm trả số tiền vay gốc là 80.000.000 đồng và không yêu cầu tính lãi suất, Hội đồng xét xử xét thấy:

BàL giao nộp tài liệu, chứng cứ chứng minh yêu cầu khởi kiện của mình là 02 giấy “BIÊN NHẬN”, trên giấy có ghi địa chỉ và chữ ký người vay, số tiền gốc tổng cộng 02 lần vay 80.000.000 đồng.

Qúa trình Tòa án xác minh, thu thập tài liệu chứng cứ xác định đương sự anh N C T và chị V T NH có đăng ký hộ khẩu thường trú tại ấp Xóm Tháp, xã Tân Phong, huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tân Phong vào ngày 03/01/2013, địa chỉ cư trú của chị N và anh Th cư trú được Tòa án thu thập phù hợp với địa chỉ người vay được ghi trên 02 giấy “BIÊN NHẬN” mà bàL giao nộp. Hiện nay chị N, anh Th vắng mặt tại phương, khi đi khỏi địa phương, chị N và anh Th không cho bàL biết về địa chỉ cư trú mới, địa phương cũng không biết địa chỉ cư trú mới nên được coi là trường hợp cố tình giấu địa chỉ.

Hội đồng xét xử căn cứ vào lời trình bày của nguyên đơn, những tài liệu, chứng cứ thu thập trong quá trình tố tụng nêu trên, xác định từ năm 2020 đến năm 2021, chị V T NH và anh N C T có thực hiện vay tiền của bà Tr T L, số tiền vay gốc 80.000.000 đồng, mục đích vay tiền là dùng vào việc tạo thu nhập và chi tiêu chung cho gia đình của chị N và anh Th, căn cứ các Điều 27 Luật hôn nhân và gia đình, xác định đây là nợ chung của chị V T NH và anh N C T.

Căn cứ vào các Điều 463 và 466 Bộ luật Dân sự và Điều 27 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Tr T L, buộc chị V T NH và anh N C T có trách nhiệm liên đới hoàn trả cho bàL số tiền vay gốc 80.000.000 đồng. Bà Tr T L có trình bày về thỏa thuận lãi bằng lời nói là 3% nhưng không xác định được số lần, số tiền lãi đã nhận, ngoài lời nói của mình thì bàL không có chứng cứ chứng minh, bàL không yêu cầu giải quyết về tiền lãi, không yêu cầu tính tiền lãi trên số tiền vay gốc nên Hội đồng xét xử không xem xét và ghi nhận việc bàL không yêu cầu tính tiền lãi.

Kể từ ngày bà Tr T L có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, chị V T NH và anh N C T còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Áp dụng Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bà Tr T L không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả lại cho bàL 2.000.000 (hai triệu) đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm bàL đã nộp theo biên lai thu số 0003591 ngày 10/11/2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh.

Buộc chị V T NH và anh N C T phải chịu 4.000.000 (bốn triệu) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 463, 466 Bộ luật dân sự; Điều 27 Luật hôn nhân và gia đình, Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Tr T L, buộc chị V T NH và anh N C T có trách nhiệm liên đới hoàn trả cho bà Tr T L số tiền nợ vay gốc 80.000.000 (tám mươi triệu) đồng. Ghi nhận bàL không yêu cầu tính tiền lãi.

Kể từ ngày bà Tr T L có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, chị V T NH và anh N C T còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Chị V T NH và anh N C T phải chịu 4. 000.000 (bốn triệu) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Bà Tr T L không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả lại cho bàL 2.000.000 (hai triệu) đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm mà bàL đã nộp theo biên lai thu số 0003591 ngày 10/11/2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh.

3. Về quyền kháng cáo: Bà Tr T L, chị V T NH, anh N C T vắng mặt được quyền kháng cáo lên Tòa án tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ