- Tranh chấp gì? án hình sự — "Võ Duy C - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố b cáo Võ Duy C phạm tội “Vi phạm quy đ nh về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ B TỈNH BÌNH PHƯỚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 15/2021/HSST Ngày: 04/02/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ B
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Đức
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Điểu Hải
2. Ông Nguyễn Minh Đức
- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Th im oan - Thư ký Tòa án nhân dân th xã B
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã B tham gia phiên tòa:
Bà Đỗ Th Minh Dung - iểm sát viên.
Ngày 04 tháng 02 năm 2021, Tòa án nhân dân th xã B, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 14/2021/TLST-HS ngày 07 tháng 01 năm 2021, theo Quyết đ nh đưa vụ án ra xét xử số 15/2021/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 01 năm 2021 đối với b cáo:
Võ Duy C, sinh năm 1978, tại Bến Tre; Hộ khẩu thường trú và chỗ ở: ấp 1, xã L, huyện G, tỉnh Bến Tre. Nghề nghiệp: Tài xế; trình độ văn hoá (học vấn) 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc t ch: Việt Nam; con ông Võ Văn N, sinh năm: 1950 và bà Nguyễn Th D, sinh năm: 1951; vợ tên Nguyễn Th Út E, sinh năm 1980; có 01 con sinh năm 2005; Tiền án, tiền sự: không; Ngày 11/8/2020, có hành vi quy phạm quy đ nh về an toàn giao thông đường bộ, đến ngày 27/10/2020 b Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an th xã B khởi tố, cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh cho đến nay.
B cáo có mặt tại phiên tòa.
B hại:
1. Đoàn Chí N, sinh năm 1990 (đã chết)
Hộ khẩu thường trú: Tổ 2, ấp P, xã T, th xã B, tỉnh Bình Phước.
2. Điểu C, sinh năm 1997 (đã chết)
Hộ khẩu thường trú: Tổ 2, ấp P, xã T, th xã B, tỉnh Bình Phước.
Đại diện theo pháp luật của b hại:
1. Th T, sinh năm 1987 (Vắng mặt)
Đ a chỉ: Tổ 2, ấp P, xã T, th xã B, Bình Phước.
2. Điểu U, sinh năm 1969 (Có mặt)
3. Bà Th R, sinh năm 1971 (Có mặt)
Cùng đ a chỉ: Tổ 2, ấp P, xã T, th xã B, tỉnh Bình Phước.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1. Võ Th Cẩm T, sinh năm 1982 (Vắng mặt có đơn)
2. Trương Hoàng N, sinh năm 1982 (Vắng mặt có đơn)
Cùng đ a chỉ: ấp K, xã H, huyện G, tỉnh Bến Tre
3. Tổng công ty CP Bảo hiểm Bưu Điện.
Đ a chỉ: Tầng 8, số 4A, Láng Hạ, Ba Đình, Hà Nội
Đại diện theo ủy quyền: Công ty bảo hiểm Bưu điện Tiền Giang (vắng mặt)
Đ a chỉ: 59C, đường 30/4, phường 1, Thành phố M, tỉnh Tiền Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 03 giờ 30 phút, ngày 11/8/2020, Võ Duy C có giấy phép lái xe hạng C số 790138745705, điều khiển xe ô tô biển số 71C-029.80, tải trọng hàng hóa 15.100 kg chạy trên đường Quốc lộ 13 theo hướng th xã B đi huyện Lộc Ninh. hi đến đoạn đường thuộc tổ 02, ấp R, xã T, th xã B, ngay phía trước là cầu Cần Lê, trên mặt đường có các cụm vạch sơn giảm tốc màu trắng, làn đường dành cho xe ô tô tải, xe khách có vạch sơn mũi tên màu trắng chỉ hướng xe chuyển qua làn đường bên trái, lề đường bên phải có biển báo phía trước là đường hẹp (biển W.203a) và biển cảnh báo đi chậm (biển W245a), tất cả các vạch trên đều được quy đ nh trong Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia QCVN 41:2019/BGTVT do Bộ Giao thông vận tải ban hành ngày 31/12/2019. Do Cường lái xe ban đêm mệt mỏi, buồn ngủ không quan sát rõ, không điều khiển xe đi chậm lại và chuyển làn theo vạch sơn và biển báo mà tiếp tục điều khiển xe vào vạch sơn liền nét màu trắng kẻ song song (vạch 4.1 - kênh hóa dòng xe) nên làm cho cảng phía trước xe ô tô va chạm vào xe mô tô Yamaha Exciter biển số 93E1-176.83 dung tích xi lanh 150cm3, do Đoàn Chí N (không có giấy phép lái xe) điều khiển chở Điểu C chạy cùng chiều phía trước gây ra vụ tai nạn giao thông. Dẫn đến Đoàn Chí N chết tại hiện trường, Điểu C chết trên đường đi cấp cứu.
Tại biên bản khám nghiệm, bản ảnh, sơ đồ hiện trường; Biên bản khám nghiệm phương tiện thể hiện:
Chọn trụ điện số 88 nằm bên lề phải của đường Quốc lộ 13 tính theo hướng từ th xã B đi huyện Lộc Ninh làm điểm mốc chuẩn.
Đoạn đường Quốc Lộ 13 thuộc tổ 03, ấp R, xã T, th xã B là đoạn đường thẳng, mặt đường trải nhựa bằng phẳng, không có chướng ngại vật, tầm nhìn không b hạn chế, không b che khuất, không có hệ thống chiếu sáng. Theo hướng từ th xã B đi huyện Lộc Ninh, là đoạn đường chuyển tiếp hẹp dần vào hai bên, từ 06 làn xe thành 02 làn xe ở trên mặt cầu Cần ê, đoạn đường có đặc điểm:
- Mặt đường có vạch sơn kép màu vàng liền nét chia mặt đường thành hai chiều xe chạy riêng biệt. Bên chiều phải đường theo hướng từ th xã B đi huyện Lộc Ninh có 03 cụm vạch sơn giảm tốc màu trắng, mỗi cụm có 05 vạch sơn. Trên làn đường dành cho xe ô tô con có vạch sơn mũi tên màu trắng chỉ hướng xe đi thẳng; Trên làn đường dành cho xe ô tô tải, khách có vạch sơn mũi tên màu trắng chỉ hướng xe chuyển qua làn đường bên trái; Trên làn đường dành cho xe mô tô, xe thô sơ có vạch sơn mũi tên màu trắng chỉ hướng xe chuyển qua làn đường bên trái. Bên lề phải đường có hệ thống đèn tín hiệu giao thông nhưng không hoạt động, có biển báo hiệu giao thông nguy hiểm, phía trước là đường hẹp vào hai bên và biển cảnh báo đi chậm.
- Đoạn đường chuyển tiếp: Mặt đường có 01 vạch sơn màu vàng liền nét chia mặt đường thành hai chiều xe chạy riêng biệt. Mặt đường b hẹp dần từ hai bên vào, có vùng vạch sơn màu trắng thu hẹp dần mặt đường bên phải, từ làn đường thứ hai về phía huyện Lộc Ninh kích thước (68x66,5x5,2) mét. Tiếp giáp bên phải phần đường b thu hẹp có hệ thống rào chắn bằng kim loại.
- Cầu Cần Lê là cầu bê tông, mặt cầu trải nhựa bằng phẳng có vạch sơn màu vàng liền nét chia mặt đường thành hai chiều xe chạy riêng biệt, mỗi chiều đường có 01 làn đường xe chạy rộng 3,4 mét
- Xe mô tô biển số 93E1-167.83 sau tai nạn xe ngã qua trái, nằm trên mặt đường nhựa. Trục bánh trước xe cách mép đường chuẩn là 4,7 mét, trục bánh sau xe cách mép đường chuẩn là 5,95 mét, đầu trục gác chân sau bên trái cách mép đường chuẩn là 5,7 mét, đầu tay phanh trước bên trái cách mép đường chuẩn là 4,95 mét.
- Xe ô tô biển số 71C - 029.80 sau tai nạn xe đỗ trên đường Quốc lộ 13, đầu xe quay về hướng huyện Lộc Ninh, đuôi xe quay về hướng th xã B. Tâm bánh xe bên phải trục I cách mép đường chuẩn là 0,85 mét, tâm bánh xe bên phải của trục III cách mép đường chuẩn là 1,15 mét, tâm bánh xe bên trái của trục III cách trục bánh trước của xe mô tô về hướng huyện Lộc Ninh là 9,65 mét.
- Vết xạc 1 dài 9,2 mét theo hướng th xã B đi huyện Lộc Ninh, đầu vết ngay mép đường chuẩn.
- Các vết cày không liên tục, cụ thể từ vết cày 2 đến vết cày 10 nằm trên vạch kênh hóa dòng xe; vết cày 15 đến vết cày 19 có điểm đầu nằm trên vạch kênh hóa dòng xe, điểm cuối nằm trên làn đường bên phải theo hướng th xã B đi huyện Lộc Ninh.
- Các vết cày 22, 23 không liên tục nằm trên làn đường bên phải theo hướng th xã B đi huyện Lộc Ninh.
- Vết máu 11, vùng tổ chức não 12, tử thi 13 và vùng tổ chức não 14 nằm trên vạch kênh hóa dòng xe theo hướng th xã B đi huyện Lộc Ninh.
- Vết cỏ dập nát do bánh xe ô tô tạo nên nằm trên lề phải đường, đầu vết cách mép đường chuẩn 0,6m, điểm cuối vết ngay mép đường chuẩn.
Tại Bản kết luận giám đ nh pháp y về tử thi số 227/2020/GĐPY ngày 14/8/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Phước kết luận: “Điểu C, sinh năm 1997 b chấn thương ngực kín, gãy đa xương sườn, giập phổi, đứt khí quản dẫn đến tử vong; Đoàn Chí N, sinh năm 1990 b đa chấn thương, giập vỡ đa tạng dẫn đến tử vong”.
Tại Bản kết luận giám đ nh số 211/HPL-PC09 ngày 01/10/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương kết luận: “ hoảng 10ml máu của tử thi Điểu C có nồng độ Ethanol là 63,38mg/100ml; Khoảng 10ml máu của tử thi Đoàn Chí N có nồng độ Ethanol là 94,06mg/100ml”.
Kết quả đo nồng độ trong hơi thở của Võ Duy C ngay sau khi xảy ra tai nạn giao thông là 0.00mg/lít khí thở.
Theo dữ liệu giám sát của Sở giao thộng vận tải tỉnh Bến Tre và dữ liệu giám sát của Công ty TNHH viễn thông Khánh Hội cung cấp, thể hiện: Xe dừng, đỗ lúc 03 giờ 39 phút 55 giây ngày 11/08/2020 tại Quốc lộ 13 thuộc xã T th xã B. Tốc độ trước khi dừng lúc 03 giờ 39 phút 15 giây là 57km/h.
Cáo trạng số: 03/CT-VKS ngày 07/01/2021 của Viện kiểm sát nhân dân th xã B truy tố Võ Duy C về tội “Vi phạm quy đ nh về tham gia giao thông đường bộ” theo quy đ nh tại điểm đ khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự.
Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên Quyết đ nh truy tố như cáo trạng, căn cứ tính chất mức độ phạm tội đề ngh Hội đồng xét xử áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự; tuyên bố b cáo phạm tội vi phạm quy đ nh về tham gia giao thông đường bộ; b cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo; đã bồi thường, khắc phục hậu quả, sau khi gây tai nạn b cáo đã tới Công an đầu thú, cha mẹ b cáo có sổ hộ nghèo theo quy đ nh tại các điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Áp dụng Điều 38, Điều 50, Điều 65 Bộ luật hình sự, Ngh Quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Đề ngh Hội đồng xét xử tuyên phạt b cáo Võ Duy C 36 tháng tù, cho hưởng án treo, ấn đ nh thời gian thử thách theo quy đ nh. Đối với giấy phép lái xe của b cáo Võ Duy C, tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã trả lại cho b cáo là đúng quy đ nh. Đối với trách nhiệm dân sự, tại phiên tòa ông Điểu U, bà Th R (cha mẹ Điểu C) thỏa thuận với b cáo về việc hỗ trợ 25.000.000đ (hai mươi lăm triệu đồng) là tự nguyện, không trái pháp luật nên đề ngh Hội đồng xét xử ghi nhận.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên và b cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận đ nh như sau:
Về hành vi, quyết đ nh tố tụng của Cơ quan điều tra Công an th xã B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân th xã Bình Long, Kiểm sát viên, Tòa án nhân dân th xã Bình Long, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy đ nh của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, b cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết đ nh của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết đ nh tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy đ nh của pháp luật.
Tại phiên tòa b cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố. Xét lời nhận tội của b cáo phù hợp với kết quả khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện về thời gian, đ a điểm, phù hợp với các tài liệu chứng cứ, vật chứng có trong hồ sơ vụ án đã thu thập được. Hội đồng xét xử đủ cơ sở để kết luận: hoảng 03 giờ 40 phút ngày 11/8/2020, b cáo điều khiển xe ô tô biển số 71C-029.80, tải trọng hàng hóa 15.100 kg chạy trên đường Quốc lộ 13 theo hướng th xã B đi huyện Lộc Ninh. hi đến đoạn đường thuộc tổ 02, ấp R, xã T, th xã B, ngay phía trước là cầu Cần Lê. Do b cáo lái xe ban đêm mệt mỏi, buồn ngủ không quan sát rõ, không đi chậm, không chuyển làn trước khi lên cầu và không giữ khoảng cách an toàn với xe chạy liền trước xe của mình nên va chạm vào xe mô tô Yamaha Exciter biển số 93E1-176.83 do Đoàn Chí N điều khiển chở Điểu C chạy cùng chiều phía trước làm chết 02 người. Hành vi của b cáo đã vi phạm khoản 1 Điều 9; khoản 1 Điều 12 uật giao thông đường bộ; khoản 1, 2, 4 Điều 5 và khoản 2 Điều 11 Thông tư số 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ giao thông vận tải. Đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy đ nh về tham gia giao thông đường bộ” quy đ nh tại điểm đ khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự.
Hành vi của b cáo là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm luật giao thông đường bộ, xâm phạm đến tính mạng của người khác được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng đến trật tự và an toàn giao thông, là người đủ tuổi ch u trách nhiệm hình sự.
B cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; b cáo cùng chủ xe đã tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả; gia đình b hại xin giảm nhẹ hình phạt và cho b cáo được hưởng án treo, sau khi gây tai nạn b cáo đã đến Công an đầu thú theo quy đ nh tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. B cáo không có tình tiết tăng nặng. Xét nhân thân b cáo chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng, hoàn cảnh gia đình khó khăn, là người lao động làm thuê, vợ không nghề nghiệp, b cáo là lao động chính để tạo ra thu nhập nuôi con sinh năm 2005 và cha mẹ già b tai biến nên không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù mà cho hưởng án treo là đủ tính răn đe, giáo dục.
Đối với vật chứng của vụ án:
- Đối với 01 xe ô tô tải, biển số 71C - 029.80 (kèm 01 giấy chứng nhận đăng ký; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm; 01 giấy chứng nhận an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ) là tài sản của ch Võ Th Cẩm T, Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại cho ch Tú là đúng quy đ nh.
- Đối với 01 thẻ nhựa có chữ Sacombank 9704034358768579; 01 điện thoại di động cảm ứng OPPO là tài sản của b hại Đoàn Chí N, Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại cho Th T (vợ của Đoàn Chí N).
- Đối với 01 xe môtô Yamaha Exciter, biển số 93E1-176.83 (kèm theo giấy chứng nhận đăng ký); 01 điện thoại di động loại cảm ứng VSMART; 01 ví da màu nâu; 421.000đ (bốn trăm hai mươi mốt ngàn đồng) là tài sản của b hại Điểu C, Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại cho ông Điểu U (cha ruột Điểu C)
- Đối với Giấy chứng minh dân nhân tên Điểu C và tên Đoàn Chí N, Cơ quan điều tra đã chuyển đến Đội Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội - Công an th xã B để xử lý theo quy đ nh.
- Đối với giấy phép lái xe số 790138745705 hạng C do Sở Giao thông vận tải thành phố Hồ Chí Minh cấp cho Võ Duy C ngày 03/8/2017 có giá tr đến 03/08/2022 trả lại cho b cáo Võ Duy C tại phiên tòa.
Về mặt dân sự:
B cáo Võ Duy C cùng chủ xe ô tô là vợ chồng ch Võ Th Cẩm T, anh Trương Hoàng N đã tự thỏa thuận và bồi thường cho ông Điểu U và bà Th R (cha mẹ ruột Điểu C) số tiền 51.000.000đ (năm mươi mốt triệu đồng); bồi thường cho ch Th T (vợ của Đoàn Chí N) số tiền 250.000.000đ (hai trăm năm mươi triệu đồng). Gia đình b hại không yêu cầu b cáo bồi thường gì thêm nên không xem xét. Ch Võ Th Cẩm T và anh Trương Hoàng N không yêu cầu b cáo trả lại số tiền trên nên không xem xét.
Tại phiên tòa, ghi nhận việc b cáo tự nguyện hỗ trợ số tiền 25.000.000đ (hai mươi lăm triệu đồng) cho ông Điểu U, Th R (cha mẹ Điểu C) vào ngày 04/3/2021.
Những vấn đề liên quan:
B hại Đoàn Chí N có nồng độ cồn trong máu vượt mức quy đ nh và điều khiển xe mô tô không có giấy phép lái xe nhưng b hại Nhơn đã chết nên không xử lý hành chính.
Đối với chủ xe là Võ Th Cẩm T và công ty bảo hiểm bưu điện Tiền Giang, ch Tú không yêu cầu Tòa án giải quyết bồi thường về trách nhiệm dân sự nên không xem xét.
Kiểm sát viên đề ngh cho b cáo được hưởng án treo là phù hợp nhận đ nh của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
[ 9] Về án phí: B cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy đ nh của pháp luật. Xét hoàn cảnh b cáo khó khăn nên miễn án phí dân sự sơ thẩm cho b cáo.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố b cáo Võ Duy C phạm tội “Vi phạm quy đ nh về tham gia giao thông đường bộ”.
Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 260; Điều 65; Điều 50; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xử phạt b cáo Võ Duy C 03 (ba) năm tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 05 (năm) năm, tính từ ngày tuyên án.
Giao b cáo cho Ủy ban nhân dân xã L, huyện G, tỉnh Bến Tre quản lý giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người b kết án thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Điều 92 luật Thi hành án hình sự năm 2019.
Trong thời gian thử thách, nếu b cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy đ nh của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết đ nh buộc phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy đ nh tại Điều 56 Bộ luật hình sự.
Trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 246 Bộ luật tố tụng dân sự.
Ghi nhận việc b cáo hỗ trợ số tiền 25.000.000đ (hai mươi lăm triệu đồng) cho ông Điểu U, bà Th R (cha và mẹ b hại Điểu C) vào ngày 04/3/2021.
Án phí: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Ngh quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
B cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
B cáo, đại diện theo pháp luật của b hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đại diện theo pháp luật của b hại; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy đ nh của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Phước; - VKSND TX. Bình Long; - CQCSĐT CA TX. Bình Long; - Chi cục THA TX Bình Long; - Phòng PV27 – CA tỉnh Bình Phước; - B cáo; - ưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thành Đức |