vanban.org

Bản án 15/2021/HSST — Hình sự

TAND Q. Phú Nhuận, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 19/03/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trần Xuân C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Trần Xuân C 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 29/10/2020. Miễn hình phạt tiền đối với bị cáo Trần Xuân C. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Xuân C - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Xuân C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN PHÚ NHUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 15/2021/HSST
Ngày: 19/3/2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ NHUẬN

Với Hội đồng xét xử sơ thẩm

- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Thống.

- Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Trần Thị Vụ

2. Ông Trần Trọng Thái

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thanh Hà – Thư ký Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận tham gia phiên tòa: Bà Tăng Thị Mỹ Ngọc - Kiểm sát viên.

Trong ngày 19 tháng 3 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, số 34 Nguyễn Văn Trỗi, Phường 15, quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 10/2021/TLST-HS ngày 05 tháng 02 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2021/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 02 năm 2021 đối với bị cáo:

Trần Xuân C, sinh năm 1965 tại Thành phố Hồ Chí Minh; thường trú: đường N, Phường B, quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa (học vấn): Không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Cao Đài; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Xuân D (chết) và bà Lê Thị B (chết); vợ, con: chưa có; nhân thân: Ngày 14/8/1987, bị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử 07 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 277/HSST ngày 14/8/1987; Ngày 16/7/1993, Toà án nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh, xử 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 72/HSST ngày 16/7/1993; Ngày 14/12/1996, Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, xử 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 1976/HSST ngày 14/12/1996; tiền án: 01, ngày 05/7/2010, Toà án nhân dân quận Phú Nhuận, xử 08 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Bản án số 80/HSST ngày 05/7/2010, chấp hành xong ngày 22/9/2016, án phí dân sự chưa thi hành; tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ từ ngày 29/10/2020 đến 01/11/2020, tạm giam từ ngày 01/11/2020 tại Nhà tạm giữ Công an quận Phú Nhuận. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Phạm Thị Ph, sinh năm 1971

Địa chỉ: đường Đ, Phường B, quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh

(Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 01 giờ 30 phút ngày 29/10/2020, tổ tuần tra Công an Phường H, quận Phú Nhuận đang đi tuần tra đến trước đường P, Phường H, quận Phú Nhuận thì phát hiện Trần Xuân C đang điều khiển xe máy hiệu Honda Wave, biển số 59E1 – 69475 có dấu hiệu nghi vấn nên yêu cầu kiểm tra, do C không xuất trình được giấy tờ tuỳ thân, nên đưa về Công an Phường H, quận Phú Nhuận kiểm tra. Qua kiểm tra, thu giữ trong túi quần phía sau bên trái của C đang mặc có 01 vỏ bao thuốc lá hiệu Caraven, bên trong có 01 gói nylon chứa tinh thể rắn không màu và 01 tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng được gấp lại, bên trong chứa tinh thể màu trắng, C khai là ma tuý tổng hợp dạng đá mua về để sử dụng nên Công an Phường H tiến hành thu giữ, niêm phong vật chứng và lập biên bản phạm tội quả tang. Ngoài ra, còn thu giữ của C 01 dụng cụ sử dụng ma tuý (01 ống thuỷ tinh), 02 điện thoại di động và 01 Ipad.

Quá trình điều tra, Trần Xuân C khai nhận số ma tuý bị thu giữ nêu trên là C mua của người thanh niên tên C1 (không rõ nhân thân, lai lịch) vào khoảng 01 giờ 00 phút cùng ngày tại hẻm trên đường Q, Phường T, quận Bình Thạnh (không rõ địa chỉ) với giá 1.000.000 đồng để về sử dụng nhưng chưa kịp thì bị phát hiện, bắt giữ (các bút lục từ 96-108).

Theo Kết luận giám định số 1892/KLGĐ-H ngày 06/11/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an Tp. Hồ Chí Minh xác định:

- 01 gói nylon chứa tinh thể không màu là ma tuý ở thể rắn, có khối lượng 1,0442 gam, loại Methamphetamine.

- 01 gói nylon chứa tinh thể màu trắng, là ma tuý ở thể rắn, có khối lượng 0,1974 gam, loại Ketamine.

Theo bản cáo trạng số 11/CT-VKSPN ngày 04/02/2021 của Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận đã truy tố bị cáo Trần Xuân C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa.

Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Sau khi phát biểu ý kiến kết luận về vụ án, phân tích đánh giá các chứng cứ, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi năm 2017 tuyên mức án đối với bị cáo Trần Xuân C từ 03 năm đến 04 năm tù, trả lại cho bị cáo điện thoại, tiêu hủy ma túy, miễn phạt tiền bị cáo, tịch thu sung quỹ 2.000 đồng.

Lời nói sau cùng của bị cáo Trần Xuân C: Bị cáo rất hối hận về hành vi của mình; kính mong Hội đồng xét xử xem xét, khoan hồng và giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Lời khai nhận tội của bị cáo Trần Xuân C tại phiên tòa hôm nay hoàn toàn phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với nội dung bản cáo trạng truy tố và phù hợp với lời khai của bị hại. Vụ án còn được chứng minh qua hoạt đồng điều tra như biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung, biên bản bắt người, thu giữ vật chứng, kết quả giám định … cùng các chứng cứ, tài liệu thu thập có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Bị cáo khai nhận: Vào khoảng 01 giờ 30 phút ngày 29/10/2020, tổ tuần tra Công an Phường H, quận Phú nhuận đang đi tuần tra đến trước đường P, Phường H, quận Phú Nhuận thì phát hiện bị cáo đang điều khiển xe máy hiệu Honda Wave, biển số 59E1 – 69475 có dấu hiệu nghi vấn nên yêu cầu kiểm tra, do bị cáo không xuất trình được giấy tờ tuỳ thân, nên đưa về Công an Phường H, quận Phú Nhuận kiểm tra. Qua kiểm tra, thu giữ trong túi quần phía sau bên trái của bị cáo đang mặc có 01 vỏ bao thuốc lá hiệu Caraven, bên trong có 01 gói nylon chứa tinh thể rắn không màu và 01 tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng được gấp lại, bên trong chứa tinh thể màu trắng, bị cáo khai là ma tuý tổng hợp dạng đá mua về để sử dụng nên Công an Phường H tiến hành thu giữ, niêm phong vật chứng và lập biên bản phạm tội quả tang.

Về tình tiết định khung hình phạt:

Với những tình tiết được chứng minh như trên đã đủ cơ sở kết luận bị cáo Trần Xuân C đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 nên bản cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận đã truy tố bị cáo là có căn cứ và đúng pháp luật.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo:

Bị cáo Trần Xuân C tính đến ngày phạm tội có 01 tiền án chưa xóa án tích mà tiếp tục phạm tội đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Tuy nhiên, tại phiên tòa hôm nay cũng như tại Cơ quan điều tra, bị cáo đã tỏ thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Hội đồng xét xử nghĩ có chiếu cố giảm nhẹ một phần khi quyết định hình phạt đối với bị cáo theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là thỏa đáng.

Bò caùo thöøa bieát ma tuùy laø chaát gaây nghieän mang tính ñoäc haïi cao, do ñoù ñaõ bò Nhaø nöôùc caám mua baùn döôùi baát kyø hình thöùc naøo. Haønh vi cuûa bò caùo ñaõ xaâm haïi ñeán cheá ñoä quaûn lyù ñoäc quyeàn veà caùc chaát gaây nghieän cuûa Nhaø nöôùc, gaây aûnh höôûng xaáu ñeán traät töï xaõ hoäi, laø nguyeân nhaân laøm phaùt sinh caùc teä naïn xaõ hoäi vaø caùc toäi phaïm khaùc. Vì vaäy, ñoái vôùi haønh vi naøy caàn phaûi ñöôïc nghieâm trò tröôùc phaùp luaät, caàn phaûi caùch ly bò caùo ra khoûi xaõ hoäi moät thôøi gian, coù nhö vaäy môùi ñuû taùc duïng caûi taïo giaùo duïc bò caùo ñoàng thôøi coù taùc duïng phoøng ngöøa chung.

Về vật chứng vụ án:

- 01 gói niêm phong số 1892, bên trong có ma tuý còn lại sau khi giám định;

- 01 vỏ bao thuốc lá hiệu Caraven; 01 tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng; 01 ống thuỷ tinh (là dụng cụ bị cáo dùng để sử dụng ma tuý);

- Cơ quan điều tra còn thu giữ của bị cáo: 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đỏ; 01 điện thoại di động hiệu Vsmart màu xanh và 01 máy Ipad sử dụng vào việc liên lạc cá nhân).

- Ngoài ra, Cơ quan điều tra còn thu giữ: 01 xe máy hiệu Honda Wave RSX, biển số 59E1-69475. Qua xác minh, xe do bà Phạm Thị Ph (sinh năm 1971, địa chỉ đường Đ, Phường B, quận Phú Nhuận) cho C mượn xe để sử dụng, bà Ph không biết C sử dụng xe làm phương tiện đi mua ma tuý để sử dụng. Lời khai của C và bà Ph là phù hợp nên Cơ quan điều tra đã trả lại xe cho bà Ph (bút lục từ 93-95).

Về trách nhiệm dân sự:

Tại phiên tòa hôm nay, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt, qua xem xét hồ sơ đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Ở dạng tội phạm này, ngoài hình phạt tù bị cáo còn phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền, nhưng xét thấy hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn không có khả năng nộp phạt nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Đối với đối tượng tên C1 (không rõ lai lịch) là bán ma túy cho bị cáo, đề nghị cơ quan điều tra tiếp tục truy xét nếu bắt được sẽ xử lý sau.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Trần Xuân C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ vào các Điều 455, Điều 456, Điều 463 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Căn cứ vào điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017,

Xử phạt bị cáo Trần Xuân C 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 29/10/2020.

Miễn hình phạt tiền đối với bị cáo Trần Xuân C.

Về vật chứng: Căn cứ khoaûn 1 Điều 47 Boä luaät hình söï năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và khoaûn 2, 3 Ñieàu 106 Boä luaät toá tuïng hình söï năm 2015.

- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) gói niêm phong số 1892, bên trong có ma tuý còn lại sau khi giám định.

- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) vỏ bao thuốc lá hiệu Caraven;; 01 ống thuỷ tinh (là dụng cụ bị cáo dùng để sử dụng ma tuý).

- Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 (một) tờ tiền mệnh giá 2.000 (Hai ngàn) đồng.

- Trả lại cho bị cáo 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia màu đỏ; 01 (một) điện thoại di động hiệu Vsmart màu xanh và 01 (một) máy Ipad nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 02/3/2021).

Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận toàn sao bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ