- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn L, Lê Tiến X - Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Văn L, Lê Tiến X, Hồ Công H, Lê Thị T và Lê Văn T phạm tội “Đánh bạc”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƯ THANH TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 15/2021/HSST Ngày 17/9/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƯ THANH, TỈNH THANH HOÁ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Tiến Dũng;
Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Trà;
Ông Trần Anh T.
Thư ký phiên tòa: Ông Lê Đình Chiến - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Như Thanh, tỉnh Thanh Hóa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Như Thanh, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Mai Cẩm Vân - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 9 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Như thanh, tỉnh Thanh Hóa, xét xử công khai vụ án hình sự thụ lý số 16/2021/HSST ngày 06 tháng 8 năm 2021, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2021/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 8 năm 2021, đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Nguyễn Văn L; Giới tính: Nam; Sinh ngày 16 tháng 4 năm 1980 tại: Phường Đông Vệ, thành phố Thanh Hóa, Tỉnh Thanh Hóa. Nơi cư trú: SN 488 Quang Trung, Phường Đông Vệ, thành phố Thanh Hóa, Tỉnh Thanh Hóa. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 5/12; Con ông: Nguyễn Thế C; Sinh năm 1949; Con bà: Hoàng Thị S; Sinh năm 1952; Gia đình có 04 chị em, bị cáo L là con thứ 3; Vợ: Hồ Thị D; Sinh năm 1983; Bị cáo có 02 con, con lớn SN 2004; con nhỏ SN 2009. Tiền án, Tiền sự: Không; Nhân thân: Năm 1997 Nguyễn Văn L bị Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa xử phạt 06 tháng tù cho hưởng án treo về tội “Cưỡng đoạt tài sản công dân”. Năm 2009 Nguyễn Văn L bị Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa xử phạt 18 tháng tù cho hưởng án treo về tội “Cố ý gây thương tích”. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 28/04/2021 đến ngày 03/05/2021 thì áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Hiện bị can đang tại ngoại tại địa phương; Có mặt:
2. Họ và tên: Lê Tiến X; Giới tính: Nam; Sinh ngày 02 tháng 6 năm 1984 tại: xã Xuân Khang, huyện Như Thanh, Tỉnh Thanh Hóa. Nơi cư trú: Thôn Xuân Sinh, xã Xuân Khang, huyện Như Thanh, Tỉnh Thanh Hóa. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông: Lê Tiến L; SN 1935; Con bà: Nguyễn Thị L; SN 1944; Gia đình có 06 anh chị em, bị cáo là con út; Vợ: Mai Thị H - Sinh năm 1983; Bị cáo có 02 người con, con lớn SN 2010; con nhỏ SN 2014. Tiền án, Tiền sự: Không. Nhân thân: Năm 2017 Lê Tiến X bị Tòa án nhân dân huyện Như Thanh xử phạt 15 tháng tù cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc”. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 28/04/2021 đến ngày 03/05/2021 thì áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Hiện bị can đang tại ngoại tại địa phương. Có mặt:
3. Họ và tên: Hồ Công H; Giới tính: Nam; Sinh ngày 07 tháng 6 năm 1976 tại: xã Xuân Khang, huyện Triệu Sơn, Tỉnh Thanh Hóa. Nơi cư trú: Thôn Xuân Lộc, xã Xuân Khang, huyện Triệu Sơn, Tỉnh Thanh Hóa. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 6/12; Con ông: Hồ Công Chuẩn - Sinh năm 1951; Con bà: Cao Thị Xuyên - Sinh năm 1952; Gia đình có 08 anh chị em, bị cáo là con thứ 2; Vợ: Nguyễn Thị Hạnh - Sinh năm 1980; Bị cáo có 02 người con, con lớn SN 1999; con nhỏ SN 2002. Tiền án, Tiền sự: Không; Nhân thân: Năm 2012 Hồ Công H bị Tòa án nhân dân huyện Như Thanh xử phạt 6 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc”. Bị cáo đang áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” kể từ ngày 12/8/2020. Bị cáo đang tại ngoại tại địa phương. Có mặt:
4. Họ và tên: Lê Văn T; Giới tính: Nam; Sinh ngày 28 tháng 12 năm 1995 tại: xã Hóa Quỳ, huyện Như Xuân, Tỉnh Thanh Hóa. Nơi cư trú: Thôn Thanh Tân, xã Hóa Quỳ, huyện Nhu Xuân, Tỉnh Thanh Hóa. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông: Lê Văn Thành
- Sinh năm 1970; Con bà: Lê Thị Hiền - Sinh năm 1973; Gia đình có 02 anh chị em, bị cáo là con thứ 2; Bị can chưa có vợ, con. Bị cáo có 03 con, con lớn SN 2003; con nhỏ SN 2012. Tiền án, Tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 28/04/2021 đến ngày 03/05/2021 thì áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Hiện bị cáo đang tại ngoại tại địa phương. Có mặt:
5. Họ và tên: Lê Thị T; Giới tính: Nữ; Sinh ngày 15 tháng 5 năm 1984 tại: xã Tân Bình, huyện Như Xuân, Tỉnh Thanh Hóa. Nơi cư trú: KP 1, TT. Yên Cát, huyện Như Xuân, Tỉnh Thanh Hóa. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Con ông: Lê Phú Bốn - Sinh năm 1958; Con bà: Lê Thị Lập - Sinh năm 1952; Gia đình có 05 anh em, bị cáo là con thứ 3; Chồng: Nguyễn Văn Thanh - Sinh năm 1981; Bị cáo có 03 con, con lớn SN 2008; con nhỏ SN 2020. Tiền án, Tiền sự: Không. Bị cáo áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Hiện bị cáo đang tại ngoại tại địa phương. Có mặt:
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Bà Quách Thị T - Sinh năm 1968; Trú tại: Thôn Đồng Hơn, xã Xuân Khang, huyện Như Thanh, tỉnh Thanh Hóa; Vắng mặt.
2. Anh Lê Nhân T - Sinh năm 2001; Trú tại: Thôn Liên Hiệp, xã Hóa Quỳ, huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa; Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào hồi 14 giờ 30 phút ngày 28/4/2021 tổ công tác đội Cảnh sát ĐTTP về HS-KT-MT Công an huyện Như Thanh phối hợp cùng Công an xã Xuân Khang tiến hành làm nhiệm vụ đảm bảo ANTT trên địa bàn xã xuân Khang đã kiểm tra, phát hiện và bắt quả tang tại nhà Hồ Công H, SN 1979 (nhà đối tượng Nguyễn Văn L thuê lại) các đối tượng gồm: Nguyễn Văn L, SN 1980 trú tại Phường Đông Vệ, TP. Thanh Hóa; Lê Thị T, SN 1984 trú tại TT. Yên Cát, huyện Như Xuân; Lê Văn H, SN 1995 trú tại xã Hóa Quỳ, huyện Như Xuân; Lê Tiến X, SN 1984 và Hồ Công T, SN 1976 cùng trú tại xã Xuân Khang, huyện Như Thanh đang có hành vi đánh bạc bằng hình thức 3 cây (tam bát cửu) với nhau.
Quá trình điều tra có đủ căn cứ xác định nội dung diễn biến hành vi phạm tội của các bị cáo như sau:
Vào khoảng 12 giờ ngày 28/4/2021 Nguyễn Văn L, SN 1980 trú tại phường Đông Vệ, thành phố Thanh Hóa trên đường đi từ nhà lên xã Xuân Khang, huyện Như Thanh, tỉnh Thanh Hóa đã gọi điện thoại rủ Lê Tiến X, SN 1984 và Hồ Công H, SN 1976 cùng trú tại xã Xuân Khang, huyện Như Thanh đến nhà anh Hồ Công H, SN 1979 ở thôn Đồng Hơn, xã Xuân Khang mà L thuê từ đầu tháng 4 năm 2021, để chơi, uống nước. Do đang rảnh rỗi nên H nhận lời đi lên nhà L; còn X sau khi nhận được cuộc gọi nhỡ của L đã gọi lại, theo lời khai báo của L là L rủ X lên nhà chơi, uống nước; còn X ban đầu khai báo L rủ lên nhà “đánh bài”, nhưng sau đó thay đổi lời khai, khai báo là L lên nhà uống nước, ngồi chơi; tuy nhiên X bận nên chưa lên luôn được. Cùng lúc này Lê Thị T, SN 1984 trú tại TT. Yên Cát, huyện Như Xuân đi xe máy từ nhà đến cửa hàng bán quần áo tại thị trấn Yên Cát nơi Lê Văn T, SN 1995 trú tại xã Hóa Quỳ, huyện Như Xuân đang làm việc để nhờ T chở xuống huyện Như Thanh đi công việc thì T đồng ý. Khi đi đến đoạn đường trước khu vực Ủy ban nhân dân xã xuân Khang, T và T gặp Hồ Công H đang trên đường đi đến nhà L. Do đã quen nhau từ trước, nên H rủ T và T vào nhà L uống nước, nói chuyện. Tại gian nhà ngang, khi đang ngồi nói chuyện T thấy một bộ bài cũ ở trong phòng nên đã rủ H và T đánh bài tiến lên Miền Nam vui với nhau. Đến khoảng 13h, Nguyễn Văn L lên đến nơi, L vào nhà chào hỏi qua mọi người rồi đi pha mì tôm ăn. Sau khi ăn xong, L quay xuống vẫn thấy T, H và T đang đánh bài vui nên đã rủ các bị cáo đánh bài 3 cây ăn tiền với nhau thì các bị cáo đồng ý. Bắt đầu chơi Lê Thị T là người cầm chương; sau đó ai chia bài được 10 điểm thì thay chương. Các bị cáo không yêu cầu số tiền diện chân và quy định tỉ lệ đặt cược thấp nhất là 50.000đ; tỉ lệ cao nhất do người chơi thỏa thuận với người cầm chương. Các bị cáo đánh bạc với nhau được khoảng 30 phút thì Lê Tiến X đến, thấy mọi người đang đánh bạc thì X xin chơi cùng. Đến 14 giờ 30 phút cùng ngày, khi Nguyễn Văn L, Hồ Công H, Lê Thị T, Lê Văn T, và Lê Tiến X đang đánh bạc với nhau thì bị lực lượng công an bắt quả tang, thu giữ tại chiếu số tiền 14.050.000đ (Mười bốn triệu không trăm năm mươi nghìn đồng), 36 cây bài tú lơ khơ từ A đến 9, 05 chiếc điện thoại di động, 01 chiếc chiếu vải. Kiểm tra trong người Nguyễn Văn L phát hiện và tạm giữ số tiền ngân hàng nhà nước Việt Nam là 2.080.000đ (hai triệu không trăm tám mươi nghìn đồng) và 01 ĐTDĐ. Kiểm tra trong người Lê Thị T phát hiện và tạm giữ số tiền ngân hàng nhà nước Việt Nam 1.170.000 (một triệu một trăm bảy mươi nghìn đồng). Thu giữ trong người Hồ Công H 01 ĐTDĐ. Lực lượng Công an tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang thu giữ, tạm giữ các đồ vật, tài liệu có liên quan và áp giải các bị cóa về trụ sở Công an huyện để làm việc.
Cách thức đánh “ba cây” như sau:
Trước khi đánh bạc thì người tham gia đánh giá lựa chọn cầm chương. Bắt đầu đánh, những người tham gia đánh bạc đặt cược số tiền. Người cầm chương dùng bộ bài tú lơ khơ 36 quân từ Át đến quân 9. Người cầm chương phát cho những người tham gia đánh bạc 3 quân bài, người nào có tổng số điểm của 3 quân bài trên tay cao hơn người cầm chương thì được nhân số tiền đúng bằng số tiền đã đặt cược từ người cầm chương, ngược lại người nào có tổng số điểm của 3 quân bài trên tay thấp hơn người cầm chương thì phải đưa số tiền đã đặt cược cho người cầm chương; người nào có tổng số điểm của 3 quân bài trên tay được 10 điểm thì người cầm chương trả số tiền gấp 2 lần số tiền đã cược, ngược lại người cầm chương có tổng số điểm của 3 quân bài trên tay được 10 điểm thì được nhận số tiền gấp đôi số tiền đã đặt cược từ những người tham gia đánh bạc còn lại; người nào có tổng số điểm của 3 quân bài trên tay giống nhau (gọi là “sáp”) thì được nhận số tiền gấp 3 lần số tiền đã đặt cược từ người cầm chương, ngược lại nếu người cầm chương “sáp” thì người cầm chương được nhận số tiền số 3 lần số tiền đã đặt cược từ những người tham gia đánh bạc còn lại; nếu người có 3 quân bài trên tay có các chữ số liên tiếp nhau đồng nhất (gọi là “tam hoa”) thì nhận được số tiền gấp 4 lần số tiền đã đặt cược từ người cầm chương; ngược lại người cầm chương được nhận gấp 4 lần số tiền đã đặt cọc từ những người tham gia đánh bạc còn lại. Nếu có 2 người trở lên bằng điểm nhau hoặc cùng “sáp”, hoặc cùng “tam hoa” thì quy định tính từ cao đến thấp theo rô, cơ, nhép, bích. Các đối tượng quy định tỉ lệ đặt cược thấp nhất là 50.000đ; tỉ lệ cao nhất do người chơi thỏa thuận với người cầm chương.
- Nguyễn Văn L: khi tham gia đánh bạc có 4.830.000đ trong đó 2.750.000đ thu tại chiếu; 2.080.000đ thu trong người. Khi bị lực lượng Công an bắt quả tang, do tiền để dưới chiếu nên bị cáo không nhớ mình đang thắng hay thua.
- Lê Tiến X: khi tham gia đánh bạc có 3.500.000đ. Khi bị lực lượng Công an bắt quả tang, do tiền để dưới chiếu nên bị cáo không nhớ mình đang thắng hay thua.
- Hồ Công H: khi tham gia đánh bạc có 2.100.000đ. Khi bị lực lượng Công an bắt quả tang, do tiền để dưới chiếu nên bị cáo không nhớ mình đang thắng hay thua.
- Lê Văn T: khi tham gia đánh bạc có 4.170.000đ trong đó có 3 triệu thu tại chiếu, 1.170.000đ thu trong người. Khi bị lực lượng Công an bắt quả tang, do tiền để dưới chiếu nên bị cáo không nhớ mình đang thắng hay thua
- Lê Thị T: tham gia đánh bạc với số tiền là 2.700.000đ. khi bị lực lượng Công an bắt quả tang, do tiền để dưới chiếu nên bị can không nhớ mình đang thắng hay thua.
Như vậy, tổng số tiền 05 bị cáo sử dụng đánh bạc là 17.300.000 đồng, trong đó thu giữ tại chiếu bạc số tiền 14.050.000đ. Thu giữ trong người các bị cáo là 3.250.000đ, của bị cáo L là 2.080.000đ; của bị cáo T số tiền 1.170.000đ, các bị cáo khai là nếu khi đánh bạc hết tiền sẽ dùng số tiền này vào mục đích đánh bạc.
Tại cơ quan điều tra các bị cáo đã khai báo thành khẩn hành vi phạm tội của mình, lời khai của các bị cáo là hoàn toàn phù hợp với các tài liệu chứng cứ mà cơ quan điều tra thu thập được.
Về vật chứng của vụ án, gồm:
Thu giữ tại chiếu bạc:
- Số tiền VNĐ: 14.050.000đ (Mười bốn triệu không trăm năm mươi nghìn đồng);
- 36 (ba mươi sáu) cây bài tú lơ khơ từ A đến 9, đã cũ;
- 01 (một) chiếc chiếu vải, kích thước: (2x2,3)m, đã cũ;
- 01 (một) điện thoại di động nhãn nhiệu Samsung Galaxy A20s, màu đen, đã qua sử dụng, số IMEI: 353248111171631;
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu HUAWEI màu đen, đã qua sử dụng, số IMEI: 869881038216209;
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, màu đen, đã qua sử dụng, số IMEI: 3565661Ø7234 Ø64;
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA 8800e-1, màu vàng, đã qua sử dụng, số IMEI: 358645010471159;
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu VERTUR, màu trắng đen, đã qua sử dụng, số IMEI: 354764050043622;
Tại hiện trường tạm giữ:
- 01 (một) xe máy nhãn hiệu NOVIA, vở nhựa bên ngoài dán logo Wave alpha màu đỏ, BKS: 36L5-9562, số máy: VUMHAYG150FMH104035, số khung: VDEWCB043E*000848*, đã qua sử dụng;
- 01 (một) xe máy nhãn hiệu HONDA, loại Wave S, màu đen xám, BKS: 36N9-3815, SK: HC12008Y625878, SM: HC12E-0265020, đã qua sử dụng;
- 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại Exciter, màu đỏ, không có biển kiểm soát, SK RLCE1S9A0BY009123, SM: 1S9A-009117, đã qua sử dụng.
Kiểm tra trên người các đối tượng bị bắt đã phát hiện và tạm giữ các đồ vật, tài liệu gồm:
- Trên người Nguyễn Văn L 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA 8800e, màu nâu, đã qua sử dụng, số IMEI: 354828021424706 và số tiền 2.080.000đ (hai triệu không trăm tám mươi nghìn đồng);
- Trên người Hồ Công H 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6plus, màu ghi bạc, đã qua sử dụng, số IMEI: 354385 Ø68234829;
- Trên người Lê Văn T số tiền 1.170.000đ (Một triệu một trăm bảy mươi nghìn đồng);
- Trên người Lê Thị T số tiền 6.270.000đ (Sáu triệu hai trăm bảy mươi nghìn đồng).
Căn cứ kết quả điều tra xác định:
- Đối với xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại Wave S, màu đen xám, BKS: 36N9-3815, do Lê Tiến X dùng làm phương tiện đi đến địa điểm đánh bạc. Quá trình điều tra xác định chiếc xe máy trên là của Quách Thị T, SN 1986 trú tại thôn Đồng Hơn, xã xuân Khang, huyện Như Thanh, tỉnh Thanh Hóa. Chiếc xe máy được chị Tích cho Lê Tiến X mượn từ chiều ngày 27/4/2021 làm phương tiện đi chở cây giống. Việc X sử dụng chiếc xe máy của chị Tích đến địa điểm đánh bạc vào chiều ngày 28/4/2021 thì chị Quách Thị Tích không hề hay biết. Nên Cơ quan CSĐT Công an huyện Như Thanh đã trả lại chiếc xe cho chủ sở hữu theo quy định của pháp luật.
- Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại Exciter, màu đỏ, không có biển kiểm soát, SK RLCE1S9A0BY009123, SM: 1S9A-009117, do Lê Thị T và Lê Văn T dùng làm phương tiện đi đến địa điểm đánh bạc. Quá trình điều tra xác định chiếc xe trên là của anh Lê Nhân T, SN 2001 trú tại thôn Liên Hiệp, xã Hóa Quỳ, huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa. Chiếc xe máy được anh Thái đi đến, để lại nhà Lê Thị T và cho Lê Thị T mượn từ sáng ngày 28/4/2021. Việc T sử dụng chiếc xe máy của anh Thái đi xuống huyện Như Thanh và tham gia đánh bạc vào chiều ngày 28/4/2021 thì anh Thái không hề hay biết. Do đó cơ quan CSĐT Công an huyện Như Thanh đã trả lại chiếc xe cho chủ sở hữu theo đúng quy định của pháp luật.
- Đối với 05 chiếc điện thoại di động được thu giữ của Hồ Công H, Lê Thị T, Lê Văn T và 02 chiếc điện thoại của Lê Văn L, quá trình điều tra xác định tất cả các chiếc điện thoại đều thuộc quyền sở hữu hợp pháp của các bị cáo, các bị cáo không sử dụng vào mục đích liên lạc để rủ rê, lôi kéo tham gia đánh bạc hay vào các hoạt động đánh bạc, phạm tội khác. Do đó Cơ quan CSĐT Công an huyện Như Thanh đã xuất kho vật chứng trả lại tài sản cho chủ sở hữu theo đúng quy định của pháp luật.
Đối với các vật chứng còn lại, gồm:
- Số tiền 17.300.000đ (Mười bảy triệu ba trăm nghìn đồng);
- 36 (ba mươi sáu) cây bài tú lơ khơ từ A đến 9, đã cũ;
- 01 (một) chiếc chiếu vải, kích thước: (2x2,3)m, đã cũ;
- Điện thoại di động nhãn hiệu HUAWEI màu đen, đã qua sử dụng, số IMEI: 869881038216209 của Lê Tiến X;
- Điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA 8800e-1, màu vàng, đã qua sử dụng, số IMEI: 358645010471159 của Nguyễn Văn L;
- Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu NOVIA, vỏ nhựa bên ngoài dán logo Wave alpha màu đỏ, BKS: 36L5-9562, số máy: VUMHAYG150FMH104035, số khung: VDEWCB043E*000848*, đã qua sử dụng của Hồ Công H.
Đây là công cụ liên quan đến hành vi các bị cáo đánh bạc, nên Cơ quan CSĐT Công an huyện Như Thanh đã chuyển đến kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự huyện Như Thanh.
- Đối với số tiền 6.270.000đ (Sáu triệu hai trăm bảy mươi nghìn đồng) thu trên người Lê Thị T quá trình điều tra xác định T không dùng để tham gia đánh bạc nên CQ CSĐT Công an huyện Như Thanh đã trả lại cho bị cáo T.
- Đối với Lê Thị Tích và anh Lê Nhân Thái, không biết việc các bị cáo sử dụng xe mô tô của mình đi đến địa điểm đánh bạc nên CQ CSĐT Công an huyện Như Thanh không có cơ sở xử lý với bà Tích và anh Thái.
Căn cứ vào các tình tiết và chứng cứ nêu trên,
Cáo trạng số 16/CT-VKS-HT ngày 05/8/2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện Như Thanh, tỉnh Thanh Hoá đã truy tố Nguyễn Văn L cùng đồng phạm về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 điều 321 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Như Thanh giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn L, Lê Tiến X, Hồ Công H, Lê Văn T và Lê Thị T phạm tội “Đánh bạc”.
Đề nghị:
- Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; Điều 38; điểm u, s khoản 1 Điều 51; các Điều 17; 58, 65 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt:
+ Nguyễn Văn L, từ 12 đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 đến 30 tháng.
- Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; các Điều 17, 38 và Điều 58 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt:
+ Hồ Công H, từ 09 đến 12 tháng tù.
+ Lê Tiến X, từ 09 đến 12 tháng tù.
- Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; các Điều 17, 58 và Điều 65 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt:
+ Lê Văn T, từ 06 đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 đến 18 tháng.
+ Lê Thị T từ 06 đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 đến 18 tháng.
- Phạt tiền các bị cáo L, X và H, mỗi bị cáo từ 10 đến 15 triệu đồng; các bị cáo T, T từ 20 đến 30 triệu đồng.
- Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự,
+ Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 17.300.000đ đồng mà các bị cáo dùng để đánh bạc.
+ Tịch thu và tiêu hủy gồm 36 (ba mươi sáu) cây bài tú lơ khơ từ A đến 9; 01 (một) chiếc chiếu vải, kích thước: (2x2,3)m đều đã cũ là công cụ các bị cáo sử dụng phạm tội. Do không có giá trị sử dụng.
+ Trả lại cho bị cáo Lê Tiến X 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu HUAWEI màu đen, đã qua sử dụng, số IMEI: 869881038216209.
+ Trả lại cho Nguyễn Văn L 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA 8800e-1, màu vàng, đã qua sử dụng, số IMEI: 358645010471159.
+ Trả lại cho bị cáo H 01 (một) xe máy nhãn hiệu NOVIA, vở nhựa bên ngoài dán logo Wave alpha màu đỏ, BKS: 36L5-9562, khi bị cáo H mua có Đăng ký mô tô, xe máy và thể hiện số máy: VUMHAYG150FMH104035, số khung: VDEWCB043E*000848* mang tên Trần Ngọc T. Nhưng đề nghị Hội đồng xét xử kiến nghị Công an Huyện Như Thanh xử lý hành chính đối với hành vị mua xe khi số khung của xe máy không trùng với đăng ký xe mô tô, xe máy.
Tại phiên tòa các bị cáo đều thành khẩn khai báo, không tranh luận gì với bản luận tội của Viện kiểm sát về tội danh, hình phạt và các vấn đề khác.
Khi nói lời nói sau cùng các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt, cho các bị cáo được cải tạo tại địa phương.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện Kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố, đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục, quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về hành vi, căn cứ buộc tội các bị cáo: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Đối chiếu lời khai nhận của các bị cáo với vật chứng thu giữ được, biên bản bắt người phạm tội quả tang, các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án là hoàn toàn phù hợp; Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Vào hồi 14 giờ 30 phút ngày 28/4/2021 tổ công tác đội Cảnh sát ĐTTP về HS-KT-MT Công an huyện Như Thanh phối hợp cùng Công an xã Xuân Khang tiến hành làm nhiệm vụ đảm bảo ANTT trên địa bàn xã xuân Khang đã kiểm tra, phát hiện và bắt quả tang tại nhà Hồ Công H, SN 1979 các đối tượng gồm: Nguyễn Văn L, SN 1980; Lê Thị T, SN 1984; Lê Văn H, SN 1995; Lê Tiến X, SN 1984 và Hồ Công T, SN 1976 đang có hành vi đánh bạc bằng hình thức 3 cây (tam bát cửu) với nhau tại nhà anh Hồ Công H, SN 1979 ở thôn Đồng Hơn, xã Xuân Khang, huyện Như Thanh. Tổng số tiền các bị cáo dùng để đánh bạc là 17.300.000 (Mười bảy triệu ba trăm nghìn đồng). Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Như Thanh truy tố các bị cáo về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
. Về tính chất, mức độ của hành vi của các bị cáo: Các bị cáo đều đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Nhưng vì muốn sát phạt nhau bằng tiền, thu lợi bất chính nên tiếp tục cố ý phạm tội. Hành vi phạm tội của các bị cáo là gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng, gây ảnh hưởng đến trật tự xã hội tại địa phương, do đó phải lên cho các bị cáo mức án nghiêm khắc. Đây là vụ án đồng phạm có tính giản đơn, các bị cáo bột phát rủ nhau đánh bạc, nên không có sự chuẩn bị, tổ chức, câu kết chặt chẽ khi phạm tội. Tuy nhiên, cần phân hóa vai trò của từng bị cáo để có mức phạt tương xứng với từng hành vi phạm tội. Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo L là người khởi xướng. Các bị cáo X, H, T và T là đồng phạm tham gia tích cực.
. Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Đối với bị cáo Nguyễn Văn L: Tiền án, Tiền sự: Không; Nhân thân: Nhân thân: Năm 1997 Nguyễn Văn L bị Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa xử phạt 06 tháng tù cho hưởng án treo về tội “Cưỡng đoạt tài sản công dân”. Năm 2009 Nguyễn Văn L bị Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa xử phạt 18 tháng tù cho hưởng án treo về tội “Cố ý gây thương tích”.
- Lê Tiến X; Tiền án, Tiền sự: Không; Nhân thân: Năm 2017 Lê Tiến X bị Tòa án nhân dân huyện Như Thanh xử phạt 15 tháng tù cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc”.
- Hồ Công H; Tiền án, Tiền sự: Không; Nhân thân: Năm 2012 Hồ Công H bị Tòa án nhân dân huyện Như Thanh xử phạt 6 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc”.
- Lê Thị T; Tiền án, tiền sự: Không.
- Lê Văn T: Tiền án, tiền sự: Không.
Qua tranh tụng tại phiên tòa và thẩm tra các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, thấy rằng: các bị cáo có nhân thân không tốt, do đã có hành vi vi phạm pháp luật trước đó, là bị cáo L, X và H. Các bị cáo T, T là phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Tuy nhiên các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo L có xác nhận là đã lập công tố giác tội phạm về ma túy giúp cơ quan Công an huyện Như Xuân bắt đối tượng vi phạm pháp luật; bị cáo H có bố là người có công với cách mạng (được tặng Huy chương kháng chiến hạng Nhì); bị cáo T đang nuôi con nhỏ dưới 18 tuổi. Đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i, s, u khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, từng bị cáo được xem xét cụ thể để giảm nhẹ hình phạt khi lượng hình.
. Về hình phạt bổ sung:
Phạt tiền các bị cáo L, X, H, mỗi bị cáo là 10.000.000đ; bị cáo T là 20.000.000đ, bị cáo T là 25.000.000đ.
. Về xử lý vật chứng:
Đối với các các tài sản là:
- 6.270.000 đồng tiền VND của bị cáo T đã được trả lại;
- 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại Exciter, màu đỏ, không có biển kiểm soát, SK RLCE1S9A0BY009123, SM: 1S9A-009117, đã qua sử dụng.
- 01 (một) điện thoại di động nhãn nhiệu Samsung Galaxy A20s, màu đen, đã qua sử dụng, số IMEI: 353248111171631;
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu HUAWEI màu đen, đã qua sử dụng, số IMEI: 869881038216209;
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, màu đen, đã qua sử dụng, số IMEI: 3565661Ø7234 Ø64;
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA 8800e-1, màu vàng, đã qua sử dụng, số IMEI: 358645010471159;
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu VERTUR, màu trắng đen, đã qua sử dụng, số IMEI: 354764050043622;
- 01 (một) xe máy nhãn hiệu HONDA, loại Wave S, màu đen xám, BKS: 36N9-3815, SK: HC12008Y625878, SM: HC12E-0265020, đã qua sử dụng;
Cơ quan CSĐT công an huyện Như Thanh đã trả lại cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, các bị cáo vì xác định không có liên quan đến vụ án. Hội đồng xét xử thấy là đúng và thực hiện đầy đủ thủ tục nên không xét.
Các vật chứng khác được xử lý như sau:
- Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước số tiền 17.300.000đ đã thu giữ do là tiền các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội;
- Tịch thu và tiêu hủy gồm 36 (ba mươi sáu) cây bài tú lơ khơ từ A đến 9 và 01 (một) chiếc chiếu vải, kích thước: (2x2,3)m, đều đã cũ do là công cụ các bị cáo sử dụng phạm tội.
- Trả lại cho bị cáo Lê Tiến X 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu HUAWEI màu đen, đã qua sử dụng, số IMEI: 869881038216209.
- Trả lại cho Nguyễn Văn L 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA 8800e-1, màu vàng, đã qua sử dụng, số IMEI: 358645010471159.
Vì xác định không phải là công cụ, phương tiện mà các bị cáo dùng vào việc phạm tội.
- Đối với 01 (một) xe máy nhãn hiệu NOVIA, vở nhựa bên ngoài dán logo Wave alpha màu đỏ, BKS: 36L5-9562, khi bị cáo H mua có Đăng ký mô tô, xe máy và
thể
hiện
số
máy:
VUMHAYG150FMH104035,
số
khung: VDEWCB043E*000848* mang tên Trần Ngọc T. Nhưng khi xác minh của cơ quan có thẩm quyền, số khung lại là WCH 024UM104035, thấy rằng bị cáo mua có giấy tờ, trả tiền cho người bán nên cần trả lại cho bị cáo H.
. Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
. Các bị cáo được quyền kháng cáo theo điều 332 và 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Văn L, Lê Tiến X, Hồ Công H, Lê Thị T và Lê Văn T phạm tội “Đánh bạc”.
1.1. Áp dụng khoản 1 khoản 3 Điều 321; điểm u, s khoản 1 Điều 51; các Điều 17, 58, 65 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Nguyễn Văn L 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
1.2. Áp dụng khoản 1 khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; các Điều 17, 38, 58 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Lê Tiến X 07 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt giam thi hành án, được trừ đi thời gian tạm giữa, tạm giam trước đây.
1.3. Áp dụng khoản 1 khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; các Điều 17, 38 và Điều 58 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Hồ Công H 07 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt giam thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam trước đây.
1.4. Áp dụng khoản 1 khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; các Điều 17, 58, 36 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Lê Thị T 09 tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn tính từ ngày UBND thị trấn Yên Cát, huyện Như Xuân nhận được bản sao bản án và quyết định thi hành án của Tòa án.
1.5. Áp dụng khoản 1 khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; các Điều 17, 36 và 58 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Lê Văn T 09 tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn tính từ ngày UBND xã Hóa Quỳ, huyện Như Xuân nhận được bản sao bản án và quyết định thi hành án của Tòa án.
Miễn khấu trừ thu nhập cho các bị cáo T và T. Các bị cáo cũng không phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Hình phạt bổ sung: Phạt tiền đối với các bị cáo, Nguyễn Văn L, Lê Tiến X, Hồ Công H, mỗi bị cáo là 10.000.000 đồng; bị cáo Lê Văn T là 25.000.000 đồng; bị cáo Lê Thị T là 20.000.000 đồng.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước số tiền 17.300.000 đồng;
- Tịch thu và tiêu hủy gồm 36 (ba mươi sáu) cây bài tú lơ khơ từ A đến 9; 01 (một) chiếc chiếu vải, kích thước: (2x2,3)m;
- Trả lại cho bị cáo Lê Tiến X 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu HUAWEI màu đen, đã qua sử dụng, số IMEI: 869881038216209;
- Trả lại cho Nguyễn Văn L 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA 8800e-1, màu vàng, đã qua sử dụng, số IMEI: 358645010471159.
- Trả lại 01 (một) xe máy nhãn hiệu NOVIA, vở nhựa bên ngoài dán logo Wave alpha màu đỏ, BKS: 36L5-9562, số máy: VUMHAYG150FMH104035, số khung: VDEWCB043E*000848*, đã qua sử dụng cho bị cáo Hồ Công H.
Theo biên biên bản giao nhận vật chứng số 11/2021/TV-THADS ngày 06/8/2021 giữa Công an huyện Như Thanh và Chi cục thi hành án dân sự huyện Như Thanh.
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ Luật tố tụng hình sự; Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Các bị cáo Nguyễn Văn L, Lê Tiến X, Hồ Công H, Lê Văn T và Lê Thị T mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Nguyễn Văn L, Lê Tiến X, Hồ Công H, Lê Văn T và Lê Thị T có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Quách Thị T, anh Lê Nhân T vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Thanh Hóa; - VKSND tỉnh Thanh Hóa; - VKSND huyện Như Thanh; - Công an huyện Như Thanh; - THADS huyện Như Thanh; - UBND xã đối với bị cáo được hưởng án treo; Cải tạo không giam giữ; - Bị cáo; - Bị hại; - Lưu: HSVA, VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Tiến Dũng |