- Tranh chấp gì? án hình sự — "Rơ Châm T - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? [1]. Chấp nhận một phần háng cáo của bị cáo Rơ Châm T , sửa bản án sơ thẩm về phần hình phạt.
- Căn cứ chính? Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 15/2021/HS - PT Ngày 04/5/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Văn Hiên.
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Kim Hồng và Bà Đinh Thị Như Phượng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Việt Anh - Thư Tòa án của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai: Bà Đỗ Thị Hoà - Kiểm sát viên trung cấp.
Ngày 4 tháng 5 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm công hai vụ án hình sự phúc thẩm thụ l số: 08/2021/TLPT - HS ngày 03 tháng 02 năm 2021 đối với bị cáo Rơ Châm T do có háng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 30/2020/HS - ST ngày 22 tháng 12 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện C , tỉnh Gia Lai.
- Bị cáo có kháng cáo:
Họ và tên: Rơ Châm T, sinh năm 1992 tại Gia Lai; Nơi ĐKHKTT: làng Mông Yố 1, xã Ia Ka, huyện C , tỉnh Gia Lai; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 4/12; Quốc Tịch: Việt Nam; Dân tộc: Jrai; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Công giáo; Con ông Rơ Châm G,sinh năm 1965 và bà Rơ Châm P, sinh năm 1963; Có vợ là Rơ Châm P1, sinh năm 1989; có 02 con, lớn sinh năm 2015, nhỏ sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi hỏi nơi cư trú. Có mặt.
-Người bào chữa cho bị cáo: Bà Trang Thị Thuỳ D – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp l Nhà nước tỉnh Gia Lai. Có mặt.
- Người phiên dịch tiếng Jarai: Bà Nay H, công tác tại Uỷ ban nhân dân xã A, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Sáng ngày 16/8/2020, Rơ Châm T cùng vợ con từ làng Mrông Yố 1, xã Ia K, huyện C đi đến làng Kênh Chóp, xã Ia Nhin, huyện C chơi. Đến hoảng 16 giờ cùng ngày T ( hông có giấy phép lái xe theo quy định) lấy chiếc xe mô tô hông có biển số, có số máy H001529, giấy chứng nhận đăng xe có biển iểm soát 81R1-4104, dung tích xi lanh 97 cm3 của bà Ksor H 1 , lưu thông trên đường bê tông nông thôn theo hướng từ chợ mới xã Ia Nhin đi thôn 2, xã Ia Nhin tốc độ hoảng 60 m/h. Khi đi đến ngã tư nơi đường giao nhau trong làng Kênh Chóp, xã Ia N, huyện C , T phát hiện thấy phía trước cách hoảng 10 mét có chị Rơ Châm H’2 , điều hiển xe mô tô BKS 81K5-9481 chở con ruột là cháu Rơ Châm O, địu ở phía trước và bà Dương Thị M ngồi phía sau, đang lưu thông trên đường theo hướng từ làng Kênh Chóp ra đường tỉnh lộ 661 (từ bên phải sang bên trái theo hướng lưu thông của T ). Lúc này xe của chị H’2 đã đi vào ngã tư và đi với tốc độ hoảng 20 - 30 km/h, nhưng T hông giảm tốc độ của xe mà chỉ hô lên và chạy thẳng về phía trước. Nên phần đầu xe mô tô do T điều hiển đã tông vào phần đuôi bên trái xe do chị H’2 điều hiển, làm xe mô tô BKS 81K5-9481 cùng chị H’2 , cháu O và bà M ngã sang bên phải sát lề đường bên phải theo hướng lưu thông của chị H’2 . Xe mô tô do T điều hiển cùng T ngã sang bên phải và trượt về phía trước theo hướng lưu thông của T . Hậu quả làm bà M bị thương, đến ngày 17/8/2020 thì tử vong tại nhà. Chị H’2 , cháu O và T hông bị thương tích gì, hai xe mô tô hư hỏng nhẹ.
Tại bản Kết luận giám định pháp y tử thi số: 665/GĐPY ngày 05/9/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Gia Lai ết luận nguyên nhân bà Dương Thị M chết là do: Chấn thương sọ não.
Tại Cáo trạng số: 27/CT-VKS ngày 09/11/2020 của Viện iểm sát nhân dân huyện C , tỉnh Gia Lai truy tố bị cáo Rơ Châm T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a hoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 30/2020/HS - ST ngày 22 tháng12 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Gia Lai đã quyết định:
-Tuyên bố: bị cáo Rơ Châm T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”
Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s hoản 1, hoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015; xử phạt Rơ Châm T 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án.
Bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, quyền háng cáo.
Sau hi xét xử sơ thẩm, ngày 24/12/2020 bị cáo háng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.
* Tại phiên toà phúc thẩm:
Bị cáo Rơ Châm T giữ nguyên nội dung háng cáo.
- Quan điểm của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án:
Toà án cấp sơ thẩm xét xử và tuyên phạt bị cáo Rơ Châm T 3 (ba) năm tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a hoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng pháp luật, hình phạt đối với bị cáo là tương xứng, phù hợp, bị cáo háng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo nhưng hông có tình tiết giảm nhẹ nào mới, háng cáo hông có căn cứ nên hông được chấp nhận.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a hoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Không chấp nhận háng cáo của bị cáo. Giữ nguyên bản án sơ thẩm
-Ý kiến của người bào chữa cho bị cáo: Đề nghị Hội đồng chấp nhận háng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo của bị cáo.
-Lời nói sau cùng của bị cáo: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
.Hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên toà phúc thẩm bị cáo Rơ Châm T hai nhận hành vi đúng như nội dung cáo trạng đã truy tố, phù hợp lời hai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phiên toà sơ thẩm, người làm chứng, ết quả hám nghiệm hiện trường, vật chứng thu giữ và các chứng cứ, tài liệu hác có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà. Đủ cơ sở hẳng định, vào hoảng 16 giờ, ngày 18/8/2020 Rơ Châm T ( hông có giấy phép lái xe theo quy định), điều hiển xe mô tô có giấy chứng nhận đăng xe BKS 81R4 - 4104, dung tích xi lanh 97cm3 lưu thông theo hướng từ chợ mới xã Ia N đi thôn 2, xã Ia N, huyện C hi đến ngã tư nơi giao nhau đồng mức, do thiếu quan sát, hông làm chủ tốc độ nên đã đâm vào xe mô tô BKS 81K5 – 9481 do chị Rơ Châm H’2 điều hiển chở phía sau là bà Dương Thị M , gây tai nạn, hậu quả bà M chết do chấn thương sọ não. Với hành vi nêu trên, Toà án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Rơ Châm T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a hoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng pháp luật.
.Xét kháng cáo của bị cáo thấy rằng:
Đối với háng cáo xin giảm nhẹ hình phạt: Toà án cấp sơ thẩm đã áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s hoản 1, hoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự cho bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật. Bị cáo có nhân thân tốt, là người dân tộc thiểu số, có hoàn cảnh gia đình hó hăn, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại hoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, hông có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, phạm tội do lỗi vô , tại phiên toà phúc thẩm hôm nay bị cáo cũng thể hiện rõ sự ăn năn hối cải về hành vi, hậu quả đã gây ra, người đại diện hợp pháp của bị hại tiếp tục có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Vì vậy, hình phạt 03 (ba) năm tù mà Toà án cấp sơ thẩm đã tuyên phạt đối với bị cáo Rơ Châm T là có phần nghiêm hắc, nên Hội đồng xét xử chấp nhận một phần háng cáo, giảm hình phạt cho bị cáo, áp dụng Điều 54 của Bộ luật Hình sự xử bị cáo hình phạt dưới mức thấp nhất của hung hình phạt được áp dụng và trong hung hình phạt liền ề nhẹ hơn của điều luật là phù hợp, tương xứng.
Đối với háng cáo xin hưởng án treo thấy rằng: Trong vụ án này, bị cáo phạm tội rất nghiêm trọng, căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, hậu quả đã gây ra, yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm thì việc cách ly bị cáo hỏi đời sống xã hội, xử bị cáo hình phạt tù có thời hạn là cần thiết, thoả đáng, đảm bảo tác dụng răn đe giáo dục riêng, phòng ngừa chung. Do đó, háng cáo xin hưởng án treo của bị cáo hông có căn cứ nên hông được chấp nhận.
.Bị cáo hông phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
. Các quyết định hác của bản án sơ thẩm hông có háng cáo, háng nghị có hiệu lực pháp luật ể từ ngày hết thời hạn háng cáo, háng nghị.
Vì các lẽ trên,
Căn cứ điểm b hoản 1 Điều 355, điểm c hoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
QUYẾT ĐỊNH:
[1]. Chấp nhận một phần háng cáo của bị cáo Rơ Châm T , sửa bản án sơ thẩm về phần hình phạt.
Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s hoản 1, hoản 2, Điều 51, Điều 38, Điều 54 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Rơ Châm T 02 (Hai) năm 03 (Ba) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án.
[2].Về án phí: Áp dụng hoản 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 Nghị quyết 326-2016-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội về Án phí, Lệ phí Toà án:
Bị cáo Rơ Châm T hông phải án phí hình sự phúc thẩm.
[3]. Các quyết định hác của bản án sơ thẩm hông có háng cáo, háng nghị có hiệu lực pháp luật ể từ ngày hết thời hạn háng cáo, háng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực ể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Gia Lai; - TAND huyện C . - Chi cục THA huyện C ; - Trại tạm giam Công an tỉnh; - Bị cáo;Người tham gia tố tụng; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Đỗ Văn Hiên |