- Tranh chấp gì? án hình sự — "TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt: Vũ Thanh V, 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 12/9/2020.
- Căn cứ chính? Luật Phí và lệ phí; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 15/2021/HS - ST Ngày: 02/02/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Duyên
Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Võ Thanh Nga
2. Bà Lê Thị Kim Lệ
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Phan Quế Anh – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 4 tham gia phiên tòa: Ông Võ Kế Út - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 02 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 135/2020/TLST- HS ngày 29 tháng 12 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2021/QĐXXST- HS ngày 19 tháng 01 năm 2021 đối với bị cáo:
Vũ Thanh V (Tên gọi khác: /), sinh ngày 20 tháng 11 năm 1994 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 236C/5 đường B, Phường T, Quận 8, TP. Hồ Chí Minh; nơi cư trú: 253/12 đường B, Phường N, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Thợ điện lạnh; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Văn , sinh năm 1973 và bà Dương Thị Thanh K, sinh năm 1975; vợ là bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1996 và có 02 con chung sinh năm 2015 và 2018; tiền án: Không; tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt và tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/9/2020. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1996; Địa chỉ: Số 402 đường A, Phường B, Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh. “Vắng mặt”
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội
dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 19 giờ 30 phút ngày 12/9/2020, khi đang ở nhà số 253/12 đường B, Phường N, Quận 8, Vũ Thanh V dùng điện thoại của mình số 0936309620 gọi đến điện thoại số 0909463448 để hỏi mua ma túy. Sau đó số máy 0909463448 gọi lại cho V là giọng người phụ nữ, V hỏi mua 400.000 đồng ma túy (hàng đá) thì được người này đồng ý và hẹn đến khu vực chung cư cũ (không rõ tên), bên hông cầu Ông Lãnh, Quận 4 để giao dịch. V điều khiển xe máy hiệu Wave, màu vàng, biển số 59L2-229.80 đi từ Quận 8 qua Quận 4, khi đến điểm hẹn, V để xe dưới chung cư rồi điện thoại cho người bán, sau đó V đi bộ lên cầu thang chung cư gặp một người phụ nữ (không rõ lai lịch), người phụ nữ đưa ma túy cho V, lấy 400.000 đồng rồi bỏ đi. V giấu gói ma túy trong bóp da, cất bóp da vào trong túi quần phía sau bên phải của V đang mặc, điều khiển xe về nhà sử dụng. Khoảng 20 giờ 30 ngày 12/9/2020, khi V đến trước nhà số 170 đường K, Phường S, Quận 4, gặp tổ tuần tra Đội CSĐTTP về Ma túy - Công an Quận 4 và Công an Phường S, Quận 4 ra hiệu dừng xe để kiểm tra, qua kiểm tra phát hiện gói ma túy trên, nên tổ tuần tra lập biên bản tạm giữ vật chứng, đưa V về trụ sở Công an Phường S, Quận 4 lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Theo Kết luận giám định số 1601/KLGĐ-H ngày 21/9/2020 của Phòng kỹ thuật hình Công an Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Tinh thể không màu trong 01 gói nylon thu giữ của Vũ Thanh V là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,5211g, loại Methamphetamine.
Quá trình điều tra, V đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình như đã nêu trên. Số điện thoại người bán ma túy do bạn nghiện cho, đây là lần đầu mua của người phụ nữ này nên không biết tên, nhân thân lai lịch. Qua thử test, Vũ Thanh V có sử dụng ma túy.
Đối với người phụ nữ bán ma túy cho V do không xác định được nhân thân, lai lịch. Xác minh số điện thoại 0909463448 không có kết quả, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 4 không có cơ sở làm rõ để xử lý.
Tại Cáo trạng số 08/CT- VKS ngày 28/12/2020 Viện kiểm sát nhân dân Quận 4 truy tố bị cáo Vũ Thanh V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa: Bị cáo Vũ Thanh V có lời khai thừa nhận đã thực hiện hành vi phạm tội phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, Kết luận điều tra và Cáo trạng đã truy tố và xin được giảm nhẹ một phần hình phạt đồng thời không nhận lại 01 (một) bóp da màu nâu do không còn giá trị sử dụng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 4 trình bày lời luận tội: Giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Vũ Thanh V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù. Đề nghị xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an Quận 4, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 4, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Vũ Thanh V không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại các biên bản tự khai, biên bản lấy lời khai các bị cáo đều trình bày lời khai hoàn toàn tự nguyện. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Vũ Thanh V thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã nêu. Qua lời khai của bị cáo, đối chiếu với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án như kết luận giám định có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 12/9/2020, tại trước nhà số 170 đường K, Phường S, Quận 4, Công an Quận 4 bắt quả tang Vũ Thanh V đang cất giấu 0,5211g (không phẩy năm hai một một gam) ma túy, loại Methamphetamine, nhằm mục đích để sử dụng
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sự quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma túy, gây mất trật tự trị an. Đây là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm và tệ nạn khác, ảnh hưởng xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội. Vì vậy, cần phải truy cứu trách nhiệm hình sự, xử lý nghiêm minh trước pháp luật nhằm răn đe, giáo dục bị can và phòng ngừa chung cho xã hội. Hành vi của bị cáo Vũ Thanh V đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân Quận 4 đối với hành vi của bị cáo là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về nhân thân: Bị cáo không có tiền án, tiền sự. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 để xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy 01 gói niêm phong ghi số vụ 1601 là ma túy của V còn lại sau giám định;
- 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy Core Prime, màu đen, đã qua sử dụng, bị vỡ màn hình, số imei: 353228070581459. Đây là điện thoại của V dùng liên hệ để mua ma túy nên tịch thu sung công Nhà nước;
- 01 (một) bóp da màu nâu đã qua sử dụng, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy;
- Trả lại cho Vũ Thanh V số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng nhưng được tạm giữ để bảo đảm thi hành án;
- 01 xe Honda hiệu Wave, màu vàng, biển số 59L2-229.80, số máy HC12E-7119366, số khung RLHHC1257FY119330. Qua xác minh, xe trên là của bà Nguyễn Thị Kim Mỹ (sinh năm 1971, HKTT: 68B/14 Phạm Thế Hiển, Phường 1, Quận 8) đăng ký sở hữu. Tháng 8/2020, bà Mỹ bán cho ông Phạm Tuấn Phong (sinh năm 1986, HKTT: 99A Tám Danh, Phường 4, Quận 8) nhưng chưa làm thủ tục sang tên. Tháng 9/2020, Phong bán lại cho bà Nguyễn Thị Trinh (vợ bị cáo V), việc mua bán có lập Hợp đồng mua bán xe Số công chứng 011424, quyển số: 02TP/CC- SCC/HĐGD ngày 17/9/2020 tại Văn phòng Công chứng VH. Bà T không biết V sử dụng xe để đi mua ma túy nên cần trả lại xe cho bà T.
Về án phí HSST: Bị cáo phải nộp số tiền là 200.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249 và điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Xử phạt: Vũ Thanh V, 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 12/9/2020.
- Căn cứ khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:
+ Tịch thu tiêu hủy 01 (một) gói niêm phong ghi vụ 1601 là ma túy của V còn lại sau giám định.
+ Tịch thu sung công Nhà nước 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy Core Prime, màu đen, đã qua sử dụng, bị vỡ màn hình, số imei: 353228070581459.
+ Trả lại cho Vũ Thanh V số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng nhưng được tạm giữ để bảo đảm thi hành án.
+ Tịch thu tuy hủy 01 (một) bóp da màu nâu của Vũ Thanh V đã qua sử dụng, không còn giá trị sử dụng.
+ Trả lại cho Nguyễn Thị Trinh 01 (một) xe gắn máy Honda hiệu Wave, màu vàng, biển số 59L2-229.80, số máy HC12E-7119366, số khung RLHHC1257FY119330.
(Vật chứng được tạm giữ theo biên bản giao, nhận vật chứng Số 33 ngày 14/01/2021 giữa Công an Quận 4 và Chi cục Thi hành án dân sự Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh).
- Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Luật phí và lệ phí:
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).
- Căn cứ Điều 331 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Bị cáo; (1) - Người tham gia tố tụng khác (1) - CA TP.HCM; (1) - TAND TP.HCM; (1) - Sở Tư pháp TP.HCM; (1) - VKSND Quận 4; (2) - Công An Quận 4; (1) - Trại tạm giam CATPHCM; (1) - Chi cục THADS Quận 4; (1) - Chi cục THAHS Quận 4; (3) - Lưu VT, hồ sơ. (2) | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Mỹ Duyên |