- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Xuân Th vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật s…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân Th phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự trả lại
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Y - TỈNH NINH BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 15/2021/HS-ST Ngày 31 - 03 - 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Y, TỈNH NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Diệu Oanh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Văn Toan
Ông Vũ Văn Thao
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Huệ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Y, tỉnh Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Y, tỉnh Ninh Bình tham gia phiên tòa: Bà Đào Thị Ngoan - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 03 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Y, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 11/2021/TLST-HS ngày 26 tháng 02 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2021/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 03 năm 2021 đối với bị cáo:
Nguyễn Xuân Th, sinh ngày 02 tháng 02 năm 1987 tại NC, Thanh Hóa. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Xóm 3, xã V, huyện NC, tỉnh Thanh Hóa. Nơi cư trú: Xóm 2, xã MS, huyện Y, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hữu Ch và bà Lưu Thị O; có vợ Dương Thị Ph và 02 con, con lớn sinh năm 2014, con nhỏ sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt, tạm giam từ ngày 31 tháng 12 năm 2020 tại Trại tạm giam Công an tỉnh Ninh Bình đến ngày 08/02/2021 được thay thế bằng biện pháp bảo lĩnh “có mặt”.
- Bị hại: Anh Đặng Đức M, sinh năm 1985, nơi cư trú: Tổ 23, phường N, thành phố T, tỉnh Ninh Bình “đã chết”.
Người đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Đặng Đình D, sinh năm 1962, nơi cư trú: Tổ 23, phường N, thành phố T, tỉnh Ninh Bình “vắng mặt”
- Người làm chứng:
+ Ông Lê Văn Ng, sinh năm 1960 “có mặt”.
+ Chị Dương Thị Ph, sinh năm 1998 “có mặt”.
+ Ông Đinh Xuân Ng1, sinh năm 1962 “vắng mặt”.
+ Bà Lê Thị Ng2, sinh năm 1956 “vắng mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Xuân Th có giấy phép lái xe hạng A1 do Sở giao thông vận tải Ninh Bình cấp ngày 13/10/2016 có giá trị không thời hạn. Khoảng 21 giờ 00 phút ngày 8/12/2020 Th điều khiển xe mô tô biển kiểm soát (BKS) 36 M5-4194 đi từ chỗ làm là nhà ông Trương Văn T tại xóm 6, xã MS, huyện Y, tỉnh Ninh Bình để về nhà tại xóm 2, xã MS, huyện Y, tỉnh Ninh Bình. Khi đi đến Km 39+700 đường Quốc lộ 12B thuộc xóm 3, xã MS, huyện Y, tỉnh Ninh Bình, Th điều khiển xe với vận tốc 50km/giờ, khoảng cách giữa xe với mép đường bên phải khoảng 1m, lúc đó có anh Đặng Đức M đang đi bộ cùng chiều phía trước cách xe của Th khoảng 15m, Th nhìn sang bên trái đường để quan sát, khi quay đầu nhìn về phía trước Th phát hiện anh M đang đi bộ, cách đầu xe mô tô của Th khoảng 2m, cách mép đường bên phải khoảng 1m, Th đánh tay lái xe mô tô sang phía bên trái để tránh nhưng không kịp, phần cụm đèn xi nhan phía trước bên phải và phần tay lái bên phải xe mô tô đã va vào vùng lưng, mông anh M làm anh M ngã đập đầu xuống đường và lăn về phía trệ cỏ bên đường bị thương nặng, xe mô tô bị đổ ra đường, Th ngã theo xe. Khi tỉnh dậy Th thấy một số người dân có mặt tại nơi xảy ra tai nạn, Th đứng dậy đi đến chỗ anh M đang nằm, khi ông Ng hỏi Th xác nhận đã tông vào người đi bộ, sau đó dựng xe, nổ máy và điều khiển xe đi thẳng về nhà mẹ vợ là bà Lê Thị Ng2 và lên giường nằm. Khoảng 6 giờ 00 phút ngày 9/12/2020 Th dậy và dùng tay tháo biển số xe mô tô gây tai nạn vứt ra vườn nhà bà Ng2 để tránh bị phát hiện. Sau khi bị tai nạn, anh M được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Ninh Bình, do vết thương nặng đến ngày 10/12/2020 anh M đã tử vong.
Căn cứ tài liệu xác minh, cơ quan điều tra xác định Nguyễn Xuân Th là người điều khiển xe mô tô BKS 36M5-4194 gây tai nạn làm anh M bị thương sau đó bỏ trốn. Ngày 9/12/2020 Công an huyện Y đã tiến hành làm việc với Nguyễn Xuân Th thu giữ: 01 xe mô tô nhãn hiệu NAGAKI (dạng xe Win), 01 đăng ký xe số 0120531 của xe mô tô biển kiểm soát 36M5-4194, 01 giấy phép lái xe mô tô hạng A1 mang tên Nguyễn Xuân Th, 01 áo khoác phao, 01 quần dài vải thô và thu giữ tại vườn nhà bà Lê Thị Ng2 01 biển kiểm soát 36M5-4194. Kết quả kiểm tra nồng độ cồn qua hơi thở của Th là 0,000 mg/l, kết quả xét nghiệm ma túy của Th là âm tính.
Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã tiến hành dựng lại hiện trường và khám nghiệm xác định: Nơi xảy ra vụ tai nạn giao thông là đoạn đường mặt đổ bê tông, bằng phẳng, mặt đường rộng 11m, ở giữa tim đường có kẻ vạch sơn phân chia làn đường tại Km 39+700 đường Quốc lộ 12B thuộc xóm 3, xã MS, huyện Y, tỉnh Ninh Bình. Lấy tâm cột mốc Km 39+700 làm mốc, lấy mép đường bên phải theo chiều xe đi từ Quốc lộ 1A về xã KT làm chuẩn; số liệu kích thước đo vuông góc vào mép đường làm chuẩn: Xe mô tô BKS 36M5-4194 đổ nghiêng bên trái nằm trên mặt đường Quốc lộ 12B, đầu xe hướng về xã KT, phần sau xe hướng về phía đường Quốc lộ 1A; trục bánh xe phía trước cách mép đường bên phải là 0,15m và cách điểm mốc là 39m; Trục sau xe mô tô cách mép bên phải là 1m và cách điểm mốc là 38,5m. Vết cày có kích thước (7,8 x 0,7)m nằm trên mặt đường có chiều hướng từ đường Quốc lộ 1A đi xã KT. Điểm bắt đầu vết cày vào mép đường chuẩn là 1,4m, cách điểm mốc là 31,7m, điểm kết thúc vết cày trùng với giá để chân bên trái xe mô tô 36M5-4194, cách mép đường bên phải là 0,95m. Vết dầu loang trên diện kích thước (0,1 x 0,1)m nằm trên mặt đường gần vị trí điểm cuối vết cày, cách mép đường bên phải là 1m.
Kết quả khám nghiệm phương tiện: Xe mô tô NAGAKI (dạng xe Win), mầu sơn đen, không đeo BKS, số máy FMGN00001873, số khung G6ND61001873, đèn xi nhan bên phải phía trước đầu xe bị gẫy vỡ rời khỏi vị trí lắp đặt ban đầu, tâm điểm gẫy cao nhất cách mặt đất 85cm. Mặt phía trước bên trái mặt đồng hồ bị sạt mài bám dính hồ đất kích thước (2,5 x 2)cm, phía trên bên trái đồng hồ sạt mài dính hồ đất kích thước (2,5 x 1,2)cm, phía trước bên trái đồng hồ sạt mài dính hồ đất kích thước (8 x 1)cm. Đầu núm tay côn bên trái xe mô tô bị sạt mài kim loại bong tróc sơn để lộ lõi kim loại bên trong kích thước (1 x 1)cm, bám dính hồ đất kích thước (1,5 x 0,5)cm. Đầu núm giá để chân bên trái có vết sạt mài bám dính hồ đất kích thước (4 x 4) cm để lộ lõi kim loại bên trong, cong vênh về phía trước; Đầu núm giá để chân người ngồi phía sau bên trái bị sạt mài kích thước (2 x 2)cm. Cạnh phía giá để đồ phía sau có vết sạt mài kích thước (2.5 x 0,7)cm.
Kết quả khám nghiệm tử thi anh Đặng Đức M: Tóc vùng đỉnh thái dương cắt sát da đầu, để lộ diện sưng nề, bầm tụ máu kích thước (20 x15)cm, đường khâu hình dấu hỏi gồm 37 mũi chỉ rời, kéo dài từ chính giữa sát đường chân tóc qua vùng đỉnh chẩm đến dưới đỉnh vành tai 1 cm, hố mắt trái bầm tụ máu; vùng ngực phải sát giữa xương đòn phải, cách đường giữa 12cm có 03 vết thủng da dạng tiêm truyền kích thước (3 x 2) cm. Vùng lưng phải cách đường giữa 10cm, cách đỉnh bờ vai 23 cm có diện sây sát da, tụ máu kích thước (13 x 9)cm. Vùng mông bên phải có diện sây sát da, tụ máu không liên tục kích thước (13 x 8)cm, cách gót chân phải 95cm. Mu bàn tay có diện bầm tụ máu kích thước (3 x 2)cm. Chân phải vùng mắt cá ngoài, gót chân có diện sây sát da, tụ máu không liên tục kích thước (10 x 2)cm. Mặt sau chân trái có vết sây sát da, tụ máu kích thước (3 x 1.5)cm.
Tại bản kết luận giám định pháp y số 43/KLGĐ-PC09-PY ngày 28/12/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình, mục khám giám định kết luận: Trên tử thi có các tổn thương sây sát, bầm tụ máu; Ổ máu đông sát dưới da đầu số lượng lớn; Tổ chức não phù căng, xuất huyết màng mềm lan tỏa vùng thái dương - trán trái; Đụng dập nhu mô não vùng thái dương - trán trái. Nguyên nhân chết của anh Đặng Đức M là chấn thương sọ não.
Về trách nhiệm dân sự: Nguyễn Xuân Th đã bồi thường thiệt hại cho gia đình anh Đặng Đức M tổng số tiền 130.000.000 đồng. Đại diện gia đình anh M là ông Đặng Đình D đã nhận đủ số tiền, không có yêu cầu gì khác về trách nhiệm dân sự và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại Bản cáo trạng số 13/CT-VKS ngày 26 tháng 02 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Y đã truy tố để xét xử bị cáo Nguyễn Xuân Th về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Xuân Th đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Y đã truy tố. Sau khi gây ra tai nạn, bị cáo cũng bị ngã bất tỉnh và bị thương, khi tỉnh dậy thấy anh M nằm bất tỉnh, sùi bọt mép bị cáo quá sợ hãi nên điều khiển xe rời khỏi hiện trường. Đến sáng hôm sau bị cáo tháo và vứt biển số xe mô tô ra vườn nhưng khi gặp vợ bị cáo đi làm về bị cáo đã kể lại cho vợ nghe toàn bộ nội dung sự việc và đang chuẩn bị cùng gia đình đi báo cáo với chính quyền về việc gây ra tai nạn thì cơ quan Công an đến làm việc.
Người làm chứng ông Lê Văn Ng trình bày: Vào khoảng 21 giờ tối ngày 08/12/2020 có 01 vụ tai nạn giao thông xảy ra trên đoạn đường Quốc lộ 12B thuộc xóm 3, xã MS, huyện Y, trước cửa nhà ông Ng. Khi đang ngồi trong nhà, ông nghe thấy tiếng rẹt ngoài đường, biết là tai nạn nên chạy ra. Ông thấy hai Th niên đều nằm ngã ngửa, bất tỉnh trên đường, một người nằm sát lề đường phần đầu trên cỏ, phần chân nằm trên đường bê tông, thở phì phò, sùi bọt mép, còn một người nằm cách xe máy 2m, lúc đó trời tối, đường vắng. Một lúc sau một nam thanh niên tỉnh dậy sau tôi biết người này là Th, mí mắt phải sưng to, khi tôi hỏi thì Th nói cháu đi một mình, cháu tông vào người đi bộ, Th đi đến chỗ nam thanh niên còn lại, sau đó lôi xe máy lên và điều khiển xe đi về hướng xã Khánh Thượng. Khi Th vòng xe máy qua, ông Ng nhìn rõ đây là loại xe win, mầu đen, biển kiểm soát 36M5- 4194.
Người làm chứng là chị Dương Thị Ph trình bày: Vợ chồng chị đang ở cùng mẹ đẻ là bà Lê Thị Ng2. Đêm ngày 08/12/2020 chị đi làm ca nên không có nhà, khoảng 6 giờ sáng ngày 09/12/2020 chị đi làm về gặp anh Th, Th kể cho chị nghe về việc gây ra tai nạn vào tối hôm trước. Khi Th và gia đình đang chuẩn bị đi báo cáo nội dung sự việc với chính quyền thì cơ quan Công an đến làm việc.
Tại các lời khai trong quá trình điều tra, người đại diện hợp pháp của bị hại ông Đặng Đình D trình bày: Tối ngày 08/12/2020 con trai ông là anh Đặng Đức M bị tai nạn khi tham gia giao thông tại đoạn đường Quốc lộ 12 B thuộc xóm 3, xã MS, huyện Y. Do vết thương quá nặng, anh M đã tử vong. Sau khi sự việc xảy ra, bị cáo Th và gia đình đã túc trực tại bệnh viện và cùng với gia đình ông lo mai táng cho anh M và đã bồi thường cho gia đình số tiền 130.000.000 đồng bao gồm tiền mai táng phí và bồi thường tổn thất về tinh thần. Ông không yêu cầu Th phải bồi thường gì thêm và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Y giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân Th phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” và đề nghị:
Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 260; Điều 38; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân Th từ 12 đến 15 tháng tù, được trừ thời gian tạm giam từ ngày 31/12/2020 đến ngày 08/02/2021, thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường xong, người đại diện hợp pháp của người bị hại không có yêu cầu bồi thường gì khác nên không xem xét.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Trả lại cho Nguyễn Xuân Th: 01 xe mô tô nhãn hiệu NAGAKI, mầu sơn đen, không đeo biển kiểm soát, xe cũ đã qua sử dụng; 01 biển kiểm soát xe mô tô 36M5-4194; 01 đăng ký xe mô tô, xe máy của xe mô tô biển kiểm soát 36M5-4194 do Phòng CSGT tỉnh Th Hóa cấp ngày 13/02/2017; 01 giấy phép lái xe số 370046002240 cấp ngày 13/10/2016 mang tên Nguyễn Xuân Th. Tịch thu tiêu hủy: 01 áo khoác phao kích thước (88x52)cm, có mũ, mầu xanh; 01 quần dài loại vải thô mầu đen có kích thước (100x42)cm.
Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết 326/NQ-UBTVQH 14 về án phí, lệ phí: Buộc bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Nguyễn Xuân Th trình bày nhất trí với nội dung luận tội, không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng: Bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật, sau khi gây tai nạn do quá lo sợ nên bị cáo đã rời khỏi hiện trường nhưng sau đó bị cáo đã cùng gia đình bị hại lo tang lễ, vay mượn để bồi thường cho gia đình bị hại, gia đình bị cáo có hoàn cảnh hết sức khó khăn, con nhỏ, bị cáo là lao động chính trong gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Y, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Y, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
Về hành vi của bị cáo: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Xuân Th đã khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Y đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, phù hợp với dấu vết trên phương tiện, dấu vết để lại hiện trường, dấu vết trên thân thể Nguyễn Xuân Th, dấu vết trên thi thể nạn nhân tại biên bản khám nghiệm hiện trường xảy ra vụ án, biên bản khám nghiệm phương tiện, biên bản khám nghiệm tử thi, kết luận giám định pháp y tử thi, vật chứng đã thu giữ và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 21 giờ 05 phút ngày 08/12/2020 tại Km 39 + 700 Quốc lộ 12B thuộc xóm 3, xã MS, huyện Y, tỉnh Ninh Bình, Nguyễn Xuân Th có hành vi điều khiển xe mô tô BKS 36M5-4194 do không chú ý quan sát đã đâm vào anh Đặng Đức M đang đi bộ cùng chiều phía trước, hậu quả anh M ngã xuống đường sau đó tử vong. Sau khi gây tai nạn, Nguyễn Xuân Th điều khiển xe bỏ chạy khỏi hiện trường, không trình báo với cơ quan có thẩm quyền về việc gây ra tai nạn để trốn trách nhiệm, tháo biển kiểm soát xe mô tô để che dấu hành vi phạm tội, hành vi của Nguyễn Xuân Th đã vi phạm quy định tại khoản 23, khoản 17 Điều 8 và khoản 1 Điều 38 Luật giao thông đường bộ. Bị cáo Nguyễn Xuân Th là người có đầy đủ năng lực hành vi, bị cáo nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm nhưng vì chủ quan không chú ý quan sát dẫn đến hậu quả gây ra tai nạn giao thông, sau khi gây tai nạn đã bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm. Hành vi của Nguyễn Xuân Th đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự.
“Điều 260. Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ:
1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.0000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 đến 05 năm:
…
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:
…
c. Bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn”.
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Y truy tố bị cáo Nguyễn Xuân Th về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:
- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi sự việc xảy ra bị cáo đã cùng gia đình nạn nhân lo tang lễ, tự Ng bồi thường thiệt hại cho gia đình người bị hại, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đại diện gia đình bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo có bố đẻ là ông Nguyễn Hữu Ch là thương binh loại A, thương tật hạng 4/4; do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
- Nhân thân: Bị cáo chưa từng vi phạm pháp luật.
Về hình phạt: Xét tính chất mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông đường bộ, gây thiệt hại đến tính mạng của công dân được pháp luật bảo vệ. Vì vậy, cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc là hình phạt tù cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung. Khi lượng hình cũng cần xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Xét thấy: Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, trong đó có 2 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, sau khi sự việc xảy ra bị cáo rất hối hận, cùng gia đình bị hại túc trực cấp cứu tại bệnh viện, lo tang lễ và tự Ng bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại; đại diện hợp pháp của người bị hại đã có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bố bị cáo là người có công với nước, bản thân bị cáo là lao động chính trong gia đình, con nhỏ, gia đình có hoàn cảnh kinh tế khó khăn; vì vậy cần áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự để quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng để tạo điều kiện cho bị cáo sớm có cơ hội quay trở lại với đời sống xã hội, tái hòa nhập cộng đồng, giúp ích cho gia đình và xã hội.
Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp:
Quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã thu giữ: 01 xe mô tô nhãn hiệu NAGAKI, mầu sơn đen, không đeo biển kiểm soát, xe cũ đã qua sử dụng; 01 biển kiểm soát xe mô tô 36M5-4194; 01 đăng ký xe mô tô, xe máy của xe mô tô biển kiểm soát 36M5-4194 do Phòng cảnh sát giao thông tỉnh Thanh Hóa cấp ngày 13/02/201701; 01 giấy phép lái xe số 370046002240 cấp ngày 13/10/2016 mang tên Nguyễn Xuân Th; 01 áo khoác phao kích thước (88x52)cm, có mũ, mầu xanh; 01 quần dài loại vải thô mầu đen có kích thước (100x42)cm.
Xét thấy: Chiếc xe mô tô nhãn hiệu NAGAKI là tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của Nguyễn Xuân Th cần áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự trả lại cho Nguyễn Xuân Th các vật chứng đã thu giữ gồm: 01 xe mô tô nhãn hiệu NAGAKI, mầu sơn đen, không đeo biển kiểm soát, xe cũ đã qua sử dụng; 01 biển kiểm soát xe mô tô 36M5-4194; 01 đăng ký xe mô tô, xe máy của xe mô tô biển kiểm soát 36M5-4194 do Phòng cảnh sát giao thông tỉnh Thanh Hóa cấp ngày 13/02/2017. Nguyễn Xuân Th không bị áp dụng hình phạt bổ sung liên quan đến việc sử dụng giấy phép lái xe do đó được trả lại 01 giấy phép lái xe số 370046002240 cấp ngày 13/10/2016 mang tên Nguyễn Xuân Th.
Đối với: 01 áo khoác phao kích thước (88x52)cm, có mũ, mầu xanh; 01 quần dài loại vải thô mầu đen có kích thước (100x42)cm đây là vật dụng sinh hoạt hàng ngày của Nguyễn Xuân Th, đã cũ, hỏng, không còn giá trị sử dụng, bị cáo Th không có nhu cầu nhận lại, cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Về trách nhiệm dân sự: Trong giai đoạn điều tra, người đại diện hợp pháp của người bị hại là ông Đặng Đình D đã nhận đầy đủ số tiền 130.000.000 đồng là tiền bị cáo Th bồi thường mai táng phí, tổn thất tinh thần; ông D không có yêu cầu bồi thường gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Do bị tuyên có tội nên bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện của người bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 260; Điều 38; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2, khoản 3 Điều 106, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án;
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân Th phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân Th 12 (Mười hai) tháng tù, được trừ 40 (Bốn mươi) ngày tạm giam (từ ngày 31/12/2020 đến ngày 08/02/2021) bằng 40 (Bốn mươi) ngày tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt đi thi hành án.
2. Xử lý vật chứng:
- Trả lại cho Nguyễn Xuân Th: 01 xe mô tô nhãn hiệu NAGAKI, mầu sơn đen, không đeo biển kiểm soát, xe cũ đã qua sử dụng; 01 biển kiểm soát xe mô tô 36M5-4194; 01 đăng ký xe mô tô, xe máy của xe mô tô biển kiểm soát 36M5-4194 do Phòng cảnh sát giao thông tỉnh Th Hóa cấp ngày 13/02/2017; 01 giấy phép lái xe số 370046002240 cấp ngày 13/10/2016 mang tên Nguyễn Xuân Th.
- Tịch thu tiêu hủy: 01 áo khoác phao kích thước (88x52)cm, có mũ, mầu xanh; 01 quần dài loại vải thô mầu đen có kích thước (100x42)cm.
(Chi tiết vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 26/02/2021 giữa Công an huyện Y và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Y. Riêng giấy phép lái xe mang tên Nguyễn Xuân Th đã được chuyển theo hồ sơ vụ án).
3. Án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Xuân Th phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự Ng thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Ninh Bình (1); - VKSND tỉnh Ninh Bình (1); - VKSND huyện Y (1); - Công an huyện Y (1); - Phòng hồ sơ nghiệp vụ CA tỉnh Ninh Bình (1); - Sở tư pháp tỉnh Ninh Bình (1); - Chi cục THA dân sự huyện Y (1); - UBND xã MS (1); - Bị cáo (1); - Đại diện hợp pháp của bị hại (1); - Lưu: Hồ sơ, VP (2). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA PHẠM DIỆU OANH (Đã ký) |