vanban.org

Bản án 15/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định Tuyên án 11/03/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Đỗ Mạnh L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt bị cáo Đỗ Mạnh L 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 10 tháng 12 năm 2020. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đỗ Mạnh L phạm tội " tàng trữ trái phép chất ma túy " - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đỗ Mạnh L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN V
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:15/2021/HS-ST
Ngày: 11-3-2021.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V, TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Văn Quân.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Phi Thường.

Ông Hoàng Quốc Mậu.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hải Ninh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Nam Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Mạnh Hùng - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 3 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 09/2021/TLST - HS ngày 01 tháng 02 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2021/QĐXXST - HS ngày 25 tháng 02 năm 2021 đối với bị cáo:

Đỗ Mạnh L; sinh năm 1987, tại Nam Định.

Nơi ĐKHKTT và cư trú tại: Thôn Đ, xã Đ, huyện V, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Đình V (đã chết) và bà Vũ Thị Kim T; có vợ là Trần Thị U (đã ly hôn) và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân:

- Ngày 02-6-2006, bị Công an huyện V, tỉnh Nam Định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền 200.000 đồng về hành vi “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

- Ngày 18-7-2008, bị Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định xử phạt 08 năm tù về tội “Cướp tài sản”.

- Ngày 18-02-2013, dùng dao chém gây thương tích cho người khác bị Công an huyện V, tỉnh Nam Định xử phạt vi phạm hành chính.

- Ngày 27-02-2014, bị Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Nam Định xử phạt 24 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 10 tháng 12 năm 2020 cho đến nay (Có mặt).

- Người làm chứng:

+ Anh Vũ Bá T; sinh năm 1990 (Vắng mặt).

+ Chị Kha Thị T; sinh năm 2002 (Vắng mặt).

+ Chị Nguyễn Thị Thùy L; sinh năm 1988 (Vắng mặt).

+ Ông Vũ Bá G; sinh năm 1954 (Vắng mặt).

+ Bà Vũ Thị Kim T; sinh năm 1962 (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn ra tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Đỗ Mạnh L bị mắc nghiện chất ma túy và thường sử dụng loại ma túy đá. Do cần ma túy để sử dụng nên sáng ngày 10-12-2020, bị cáo L đã đi ra khu vực ba tầng, phường T, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định để tìm mua ma túy để sử dụng. Tại đây L đã mua được 01 gói ma túy đá của một người đàn ông (L không quen biết và cũng không biết được tên, tuổi, địa chỉ) với giá 300.000 đồng rồi đem về cất giấu ở trang trại chăn nuôi ở cánh đồng thôn Đ, xã Đ, huyện V, tỉnh Nam Định do L quản lý. Đến khoảng 13 giờ cùng ngày khi L đang ở trang trại chăn nuôi của mình thì Vũ Bá T (tức N); sinh năm 1990; trú tại: Thôn Đ, xã Đ, huyện V, tỉnh Nam Định (T là cậu của L) cùng với Kha Thị T; sinh năm 2002; trú tại: Bản T, xã N, huyện T, tỉnh Nghệ An đến trang trại của L chơi. Sau khi T và T đến L có nhờ T đi lấy cơm cho chó ăn và đi sửa âm ly hộ cho L. Sau đó, L đã tự lấy gói ma túy đá vừa mua được lúc sáng ra rồi đổ vào trong 01 cóng thủy tinh , tiếp theo L lấy 01 chai nhựa có nắp để làm bình tông và gắn cóng ma túy vào chai nhựa và dùng bật lửa hơ nóng cho ma túy bốc khói. Khi ma túy đã bốc khói L liền hút 03 - 04 hơi trước mặt của T và T. Sau khi hút xong L để luôn bình cóng ma túy trên mặt bàn gỗ và ở trước mặt T và nói “Hút đi”. T cầm bình cóng ma túy lên hút 02 hơi. Sau khi T hút xong L tiếp tục cầm bình cóng ma túy lên và bật lửa hơ lần nữa thì T nói “Để tao làm khói” rồi T cầm luôn bình cóng ma túy của L đưa cho hút 02 hơi rồi đưa lại cho L. L tiếp tục hút 01 hơi nữa rồi để luôn bình cóng ma túy ở trên mặt bàn trước mặt L, T, T. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày Tổ công tác của Công an huyện V, tỉnh Nam Định và Công an xã Đ, huyện V, tỉnh Nam Định phát hiện bắt quả tang.

Tổ công tác của Công an đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản thu giữ vật chứng và biên bản niêm phong các vật chứng gồm: 01 chai nhựa màu trắng, nắp màu xanh, trên nắp có gắn 01 cóng thủy tinh màu trắng và 01 ống hút bằng nhựa (bên trong cóng có chứa chất tinh thể màu trắng); 01 túi ni lông màu trắng, ở bên trong túi có bám dính chất tinh thể màu trắng; 01 bật lửa gas màu trắng. Tất cả được niêm phong trong 01 hộp bìa cát tông màu nâu, kích thước (30x21x12) cm. Sau đó tiến hành lấy mẫu nước tiểu của L, T, T và niêm phong trong chai nhựa màu trắng, dán kín các mép, ký hiệu lần lượt là M1, M2, M3.

Ngày 10-12-2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V đã quyết định trưng cầu giám định để giám định chất ma túy trong các vật chứng đã thu giữ nêu trên. Tại Kết luận giám định số 1256/GĐKTHS ngày 11-12-2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định đã kết luận: Mẫu rắn dạng tinh thể màu trắng bám dính trong 01 túi ni lông màu trắng và trong 01 cóng thủy tinh màu trắng được niêm phong gửi giám định đều là ma túy. Loại ma túy: Methamphetamine. Tổng khối lượng mẫu: 0,513 gam.

Ngày 11-12-2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V đã quyết định trưng cầu giám định để giám định chất ma túy có trong các mẫu nước tiểu đã thu giữ nêu trên. Tại Kết luận giám định số 1264/GĐKTHS ngày 14-12-2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định đã kết luận:

- Có tìm thấy thành phần Methamphetamine trong 02 mẫu nước tiểu được niêm phong ký hiệu là M1 và M3 gửi giám định. Methamphetamine là các chất ma túy thuộc Danh mục các chất ma túy theo quy định của Chính phủ

- Không tìm thấy thành phần các chất ma túy thường gặp (gồm các chất ma túy thuộc nhóm Opiat: Heroine, Morphine… và các chất ma túy thuộc nhóm ATS: Methamphetamine, MDMA, Ketamine…) theo Danh mục các chất ma túy do Chính phủ ban hành trong 01 mẫu nước tiểu được niêm phong ký hiệu là M2 gửi giám định.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V: Bị cáo Đỗ Mạnh L đã thành khẩn khai báo về toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung đã nêu trên; Vũ Bá T và Kha Thị T cũng khai báo về hành vi phạm tội của bị cáo L cũng như hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của mình đúng như nội dung đã nêu trên.

Cáo trạng số 12/CT-VKSVB ngày 01-02-2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện V, tỉnh Nam Định đã truy tố bị cáo Đỗ Mạnh L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo Đỗ Mạnh L đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung đã nêu trên và xin được giảm nhẹ một phần hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V thực hành quyền công tố. Sau khi phân tích, đánh giá các chứng cứ buộc tội đối với bị cáo và đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, động cơ mục đích phạm tội của bị cáo đã giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Đỗ Mạnh L như bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử như sau:

- Về điều luật áp dụng: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đỗ Mạnh L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Đỗ Mạnh L từ 21 tháng đến 24 tháng tù; miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.

- Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 hộp bìa cát tông niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định. Mặt trước có ghi: Số 1256/GĐKTHS, “Kính gửi: Cơ quan CSĐT - CAH V. Hoàn trả mẫu vật giám định vụ: Vũ Bá T, sinh năm 1990; Kha Thị T, sinh năm 2002 và Đỗ Mạnh L, sinh năm 1987. Phạm tội về ma túy ngày 10-12-2020”; 01 hộp bìa cát tông niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định. Mặt trước có ghi: Số 1264/GĐKTHS, “Kính gửi: Cơ quan CSĐT - CAH V. Hoàn trả mẫu vật giám định vụ: Vũ Bá T, sinh năm 1990; Kha Thị T, sinh năm 2002 và Đỗ Mạnh L, sinh năm 1987. Phạm tội về ma túy ngày 10-12-2020” và 01 bật lửa gas màu trắng đã qua sử dụng.

- Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo L phải nộp theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện V; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện V; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều là hợp pháp.

. Về chứng cứ và tội danh đối với hành vi của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo Đỗ Mạnh L được chứng minh bằng các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Vật chứng của vụ án đã thu giữ; Bản kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định; Lời khai của bị cáo, của người làm chứng tại cơ quan điều và lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa. Nên đã có đủ căn cứ để kết luận: Khoảng 14 giờ 00 phút ngày 10-12-2020 tại trang trại chăn nuôi ở cánh đồng thôn Đ, xã Đ, huyện V, tỉnh Nam Định do bị cáo L quản lý, bị cáo L đã thực hiện hành vi cất giấu trái phép 0,513 gam ma túy, loại ma túy là Methamphetamine, với mục đích để cho bản thân cùng Vũ Bá T (tức N) và Kha Thị T tiếp tục sử dụng thì bị Tổ công tác của Công an huyện V phát hiện bắt quả tang; ngoài ra thì trước đó bị cáo L cùng với Vũ Bá T (tức N) và Kha Thị T cũng đã sử dụng trái phép chất ma túy.

Đối chiếu hành vi mà bị cáo L đã thực hiện nêu trên với quy đinh của Bộ luật Hình sự hiện hành thì hành vi đó của bị cáo đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của bị cáo L và Vũ Bá T (tức N), Kha Thị T thì ngày 18-01-2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với L, T, T về hành vi này.

Như vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện V truy tố và luận tội hành vi của bị cáo L đã thực hiện về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật và sự đề nghị của Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp với quy định của pháp luật.

. Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo L là nguy hiểm cho xã hội, hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý về chất ma tuý của Nhà nước và còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương; bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, năng lực trách nhiệm hình sự và nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện việc phạm tội. Do đó, buộc bị cáo phải hoàn toàn chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của mình và cần phải áp dụng loại hình phạt cũng như mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cũng như nhân thân của bị cáo để cải tạo, giáo dục bị cáo nói riêng đồng thời cũng là để răn đe phòng ngừa tội phạm nói chung.

. Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Về nhân thân: Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa thể hiện bị cáo có nhân thân xấu, trước lần phạm tội này bị cáo đã nhiều lần bị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính và kết án về các hành vi vi phạm pháp luật khác nhau.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Về tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình và hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, có xác nhận của chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú. Nên bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

. Về đường lối xử lý hành vi phạm tội của bị cáo:

Về hình phạt chính: Căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy bị cáo có nhân thân xấu đã nhiều lần bị các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính và kết án về các hành vi vi phạm pháp luật khác nhau nhưng bị cáo vẫn không thấy được đó là bài học cho bản thân để rồi mà tu dưỡng rèn luyện để trở thành người tốt mà bị cáo vẫn tiếp tục thực hiện việc phạm tội nên cần phải áp dụng loại hình phạt, cũng như mức hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo và tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi môi trường ngoài xã hội một thời gian nhất định nữa thì mới có thể cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội được.

Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo tàng trữ trái phép chất ma túy, với mục đích để sử dụng. Nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

. Về xử lý vật chứng: Xét thấy toàn bộ các vật chứng của vụ án mà cơ quan giám định đã hoàn lại đối tượng giám định, trong đó có chất ma túy là vật Nhà nước cấm lưu hành, còn lại các đồ vật khác thì đều có liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên tịch thu tiêu hủy toàn bộ.

. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.

. Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của bị cáo L và Vũ Bá T, Kha Thị T. Xét thấy Cơ quan CSĐT Công an huyện V đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối L, T, T về hành vi này là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.

. Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo L (Theo như lời khai của bị cáo). Quá trình điều tra chưa xác định được tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của người này nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V đã tách ra để tiếp tục điều tra xác minh xử lý sau, xét thấy là phù hợp với quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

- Tuyên bố bị cáo Đỗ Mạnh L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

- Xử phạt bị cáo Đỗ Mạnh L 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 10 tháng 12 năm 2020.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy toàn bộ các mẫu vật mà cơ quan giám định đã hoàn lại đối tượng giám định theo các bản kết luận giám định số 1256 và 1264 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định gồm: 01 hộp bìa cát tông niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định. Mặt trước có ghi: Số 1256/GĐKTHS, “Kính gửi: Cơ quan CSĐT - CAH V. Hoàn trả mẫu vật giám định vụ: Vũ Bá T, sinh năm 1990; Kha Thị T, sinh năm 2002 và Đỗ Mạnh L, sinh năm 1987. Phạm tội về ma túy ngày 10-12-2020”; 01 hộp bìa cát tông niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định. Mặt trước có ghi: Số 1264/GĐKTHS, “Kính gửi: Cơ quan CSĐT - CAH V. Hoàn trả mẫu vật giám định vụ: Vũ Bá T, sinh năm 1990; Kha Thị T, sinh năm 2002 và Đỗ Mạnh L, sinh năm 1987. Phạm tội về ma túy ngày 10-12-2020” cùng 01 bật lửa gas màu trắng đã qua sử dụng.

(Vật chứng đang được quản lý tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện V theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 02-02-2021).

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Đỗ Mạnh L phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Đỗ Mạnh L được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiện thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ