- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 2…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM TÂN TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 15/2021/HS-ST Ngày: 29-3-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM TÂN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Phương
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Quang Sơn và bà Vũ Thị Nữ
Thư ký phiên tòa: Ông Phan Vĩnh Nguyên - Thư ký Tòa án nhân dân
huyện Hàm Tân;
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Tân tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Thành Yên - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 3 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân xét
xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 13/TLST-HS ngày
11/3/2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2021/QĐXXST-HS ngày
15/3/2021, đối với bị cáo:
NGUYỄN VĂN T, (tên gọi khác: Không), sinh năm: 1970 tại tỉnh L;
Nơi cư trú: Thôn N, xã N1, huyện N2, tỉnh N3;
Nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh
Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam
Cha: Nguyễn Văn M (chết); Mẹ: Nguyễn Thị H.
Gia đình có 07 anh em, bị cáo là con thứ năm
Vợ: Ngô Thị G; Có 02 con, con lớn sinh năm 1991, con nhỏ sinh năm
1994.
Tiền sự: Không; Tiền án: Không
Bị cáo hiện đang tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Công ty TNHH Đ
Địa chỉ: 18/21 khu phố B, phường T1, Tp. B1, tỉnh Đ.
Đại diện hợp pháp: Ông Đào Ánh P, sinh năm: 1990 (Vắng mặt)
Địa chỉ: 18/21 khu phố B, phường T1, Tp. B1, tỉnh Đ.
- Bị đơn dân sự: Ông Hồ Xuân Q, sinh năm: 1970 (Vắng mặt)
Địa chỉ: 95/52/33 Lê Văn L, phường T, Quận B2, Tp. H.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Đặng Hoài B3, sinh
năm: 1995 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn P, xã A, huyện T2, tỉnh P.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Vào tối ngày 02/10/2020, Nguyễn Văn T điều khiển xe ô tô khách BKS
51B-414.39 vận chuyển hành khách theo hành trình từ thành phố Hồ Chí Minh đi Phan Rang. Đến khoảng 01 giờ ngày 03/10/2020, Thành điều khiển xe đến đoạn km 1746 + 310m trên đường Quốc lộ 1A thuộc thôn An Bình, xã Sông Phan, huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận.
Cùng lúc này có xe ô tô tải BKS 60C-546.52 do tài xế Đặng Hoài B3 điều
khiển và xe ô tô đầu kéo BKS 60C-502.30 kéo theo Sơmirơmoóc 29R-064.47 do tài xế Lê Ái Minh Châu điều khiển đang di chuyển chậm ngay phía trước cùng chiều.
Lúc này, do T điều khiển không làm chủ được tốc độ, cho nên đã để cho
đầu xe ô tô khách 51B-414.39 đâm vào phía sau xe ô tô tải BKS 60C-546.52 làm cho xe ô tô tải lao về phía trước vào lề phải đường theo hướng đi rồi tiếp tục đụng vào đuôi xe đầu kéo 60C-502.30 kéo theo sơmirơmoóc 29R-064.47, gây tai nạn. Hậu quả: không có thương vong về người nhưng vụ tai nạn đã làm đuôi xe ô tô tải 60C-546.52 và một phần hàng hóa trên xe bị hư hỏng; xe ô tô khách 51B-414.39 và xe ô tô đầu kéo 60C-502.30 kéo theo sơmirơmoóc 29R-064.47 bị hư hỏng nhẹ.
Theo Biên bản khám nghiệm hiện trường vào lúc 01 giờ 10 phút – 03 giờ
00 phút cùng ngày 03/10/2020 cùng sơ đồ hiện trường vụ tai nạn giao thông thể hiện:
Hiện trường nơi xảy ra tai nạn có chiều rộng mặt đường nhựa, chiều rộng
mặt đường đo được 12m20. Ở giữa tim đường có 02 vạch sơn màu vàng liền mạch chia mặt đường thành hai phần; phần đường hướng Đồng Nai đi Phan Thiết đo được là 5m75, phần đường dành cho xe thô sơ và người đi bộ đo được 2m10. Dấu vết vụ tai nạn được đo vào mép đường bên phải hướng Đồng Nai đi Phan Thiết như sau:
- Số 1 là vùng mảnh vỡ, tâm vùng đo vào lề được 3m80, đo đến đầu trục
bánh sau dí thứ 3 bên phải của sơmirơmoóc 29R-064.47 được 14m30;
- Số 2 là xe ô tô đầu kéo BKS 60C-502.30 kéo theo sơmirơmoóc 29R-
064.47, đầu xe hướng Phan Thiết, đuôi xe hướng Đồng Nai. Đầu trục bánh trước bên phải đo vào lề phải được 3m10. Đầu trục bánh sau cầu thứ 2 bên phải đo vào lề được 3m10, đầu trục bánh sau dí thứ 3 bên phải đo vào lề được 2m90. Đầu trục bánh trước bên phải đo đến đầu trục bánh sau bên trái của xe ô tô tải 60C-546.52 được 26m50. Đầu trục bánh trước bên trái đo đến đầu trục bánh trước bên phải xe ô tô khách 51B-414.39 được 1m00. Đầu trục bánh sau dí thứ 3 bên trái đo đến đầu trục bánh sau bên phải của xe ô tô 51B-414.39 được 8m80;
- Số 3 là xe ô tô khách 51B-414.39, đầu xe hướng Phan Thiết, đuôi xe
hướng Đồng Nai. Đầu trục bánh trước bên phải đo vào lề được 6m20 và đo đến đầu trục bánh sau bên trái của xe ô tô 60C-546.52 được 26m20. Đầu trục bánh sau bên phải đo vào lề được 6m00;
- Số 4 là xe ô tô tải 60C-546.52, đầu xe hướng Phan Thiết, đuôi xe hướng
Đồng Nai. Đầu trục bánh trước và bánh sau bên trái trùng với lề đường bên phải.
Theo Bản Kết luận giám định số 1143/KLGĐ-PC09 ngày 16/11/2020 của
Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Bình Thuận kết luận:
- Xe ô tô 51B-414.39 có các dấu vết va chạm: Cản trước, mặt nạ trước bên
phải bị biến dạng, đẩy về sau; hông giữa và sau bên phải bị trượt xước; mặt
ngoài bánh xe trước bên phải trượt xước, mất bụi, bám chất màu xanh phù hợp
với các dấu vết va chạm trên xe ô tô biển số 60C-546.52: Cản sau bị đẩy về
trước, bám chất màu xanh, nắp thùng phía sau bị đẩy về trước, gác chân lên
xuống phía sau bị đẩy về trước, bám chất màu xanh, thùng để phụ tùng bị đẩy về
trước; đèn hông bên trái sau cùng trượt xước, bám chất màu xanh; hông trái phía
sau bám chất màu đen trượt xước;
- Vị trí va chạm giữa xe ô tô biển số 60C-546.52 và xe ô tô biển số 51B-
414.39 nằm trên làn đường xe cơ giới thuộc phần đường bên phải theo hướng
Đồng Nai đi Phan Thiết;
- Xe ô tô biển số 51B-414.039 di chuyển theo hướng Đồng Nai đi Phan
Thiết; xe biển số 60C-546.52 di chuyển theo hướng Đồng Nai đi Phan Thiết.
Theo Kết luận định giá tài sản số 01/KL-HĐĐGTS ngày 11/01/2021 của
Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự của Ủy ban nhân dân huyện
Hàm Tân kết luận:
- Xe ô tô biển kiểm soát 60C-546.52 bị hư hỏng trị giá là 24.437.500
đồng;
- Hàng hóa trên xe ô tô 60C-546.52 bị hư hỏng trị giá là 109.389.000
đồng;
Tổng giá trị tài sản bị hư hỏng được định già là: 133.826.500 đồng.
Về phần dân sự: Chủ xe ô tô 51B-414.39 đã thỏa thuận và bồi thường
thiệt hại về xe và hàng cho xe ô tô 60C-546.52 là 160.000.000 đồng. Hiện nay,
chủ xe ô tô 60C-546.52 không có yêu cầu bồi thường gì thêm. Đối với xe ô tô
đầu kéo 60C-502.30 kéo theo sơmirơmoóc 29R-064.47 do chỉ bị hư hỏng nhẹ
cho nên không có yêu cầu gì về hình sự, dân sự.
Vật chứng của vụ án: Cơ quan điều tra đã trả lại xe ô tô khách 51B-
414.39, xe ô tô tải 60C-546.52 cho chủ xe, đối với xe ô tô đầu kéo 60C-502.30
kéo theo sơmirơmoóc 29R-064.47 chỉ bị hư hỏng nhẹ và không có yêu cầu gì
cho nên Công an không tạm giữ.
Cáo trạng số 17/CT-VKS ngày 11/3/2021 của Viện kiểm sát nhân dân
huyện Hàm Tân đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Vi phạm quy định về
tham gia giao thông đường bộ” theo điểm d khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm d khoản 1 Điều 260,
điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự, tuyên: Bị cáo
Nguyễn Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”,
xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 09 tháng đến 12 tháng tù, nhưng cho hưởng án
treo, ấn định thời gian thử thách theo quy định pháp luật.
Phần dân sự đã giải quyết xong nên đề nghị Hội đồng xét xử không xét.
Trả lại Giấy phép lái xe cho bị cáo Nguyễn Văn T.
Tại phiên tòa, bị cáo nhận tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố và
xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy
tố, xét xử.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Công an huyện Hàm Tân,
Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Tân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục, quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, đại diện bị hại, bị đơn dân sự không có người nào có ý kiến, hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Nguyễn Văn T là người đã học Luật Giao thông đường bộ và đã được
cấp giấy phép lái xe đúng quy định.
Khoảng 01 giờ 00 phút ngày 03/10/2020, tại km 1746 + 310m Quốc lộ 1A
thuộc thôn An Bình, xã Sông Phan, huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận, Nguyễn Văn T điều khiển xe ô tô khách biển kiểm soát 51B-414.39 di chuyển hướng Đồng Nai đi Phan Thiết, do không tuân thủ quy tắc giao thông đường bộ khi giữ khoảng cách với xe đang lưu thông phía trước cùng chiều cho nên đã để đầu xe ô tô do Th điều khiển đụng vào đuôi xe ô tô tải biển kiểm soát 60C-546.52 đang di chuyển phía trước cùng chiều làm cho xe ô tô và hàng hóa trên xe bị hư hỏng được định giá là 133.826.500 đồng, rồi tiếp tục đụng vào xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát 60C-502.30 kéo theo Sơmirơmoóc 29R-064.47 phía trước làm xe hư hỏng nhẹ.
Nguyên nhân gây tai nạn là do lỗi của bị cáo đã không tuân thủ đúng và
đầy đủ các quy định của Nhà nước về an toàn khi tham gia giao thông, đã vi phạm vào khoản 1 Điều 12 Luật giao thông đường bộ là “Người lái xe, người điều khiển xe máy chuyên dùng phải tuân thủ quy định về tốc độ xe chạy trên đường và phải giữ một khoảng cách an toàn đối với xe chạy liền trước xe của mình…”.
Với những vi phạm nêu trên cùng với hậu quả gây thiệt hại về tài sản
133.826.500 đồng nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Hành vi phạm tội của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, đã xâm hại
đến trật tự công cộng và an toàn xã hội. Ngoài ra hành vi của bị cáo còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự an toàn giao thông tại địa phương. Do đó, Hội đồng xét xử cần xử lý nghiêm để góp phần răn đe giáo dục và phòng ngừa chung.
Trong lượng hình, Hội đồng xét xử cũng xem xét đến tính chất mức độ
phạm tội và nhân thân của bị cáo để lượng hình cho phù hợp. Xét thấy: Sau khi
gây tai nạn đã tích cực tác động bồi thường để khắc phục hậu quả cho người bị
hại và được đại diện cho bị hại đã làm đơn bãi nại không yêu cầu xử lý hình sự.
Quá trình điều tra và tại tòa hôm nay, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, tỏ
ra ăn năn hối cải với lỗi lầm của mình; Bản thân bị cáo có nhân thân tốt, chưa có
tiền án, tiền sự; mẹ ruột của bị cáo có huân chương kháng chiến hạng nhì. Đây
là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm điểm b, s
khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xét, bị cáo Nguyễn Văn T có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Có nhân thân tốt; Phạm
tội với lỗi vô ý; Có nghề nghiệp ổn định và nơi cư trú cụ thể, rõ ràng; Quá trình
điều tra vụ án bị cáo được xem xét cho tại ngoại và trong thời gian được tại
ngoại bị cáo không có vi phạm gì. Đại diện hợp pháp của bị hại có đơn bãi nại
và đề nghị miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho Nguyễn Văn T. Vì vậy, Hội
đồng xét xử nghĩ nên chiếu cố, khoan hồng về phần hình phạt đối với bị cáo, áp
dụng quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt tù nhưng cho hưởng án treo,
giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo thường trú giám sát và giáo
dục, để bị cáo có điều kiện lao động, cải tạo ổn định cuộc sống, đồng thời thể
hiện sự khoan hồng của pháp luật.
Trách nhiệm dân sự: Người đại hợp pháp của người bị hại xác nhận
hai bên đã thỏa thuận bồi thường, không có yêu cầu bồi thường gì thêm, nên Hội
đồng xét xử không giải quyết. Do vắng mặt tại phiên tòa, nếu bị hại có yêu cầu
gì thêm thì có thể khởi kiện bằng vụ án dân sự khác.
Vật chứng vụ án: Quá trình điều tra đã giải quyết xong, nên Hội đồng
xét xử không xem xét. Riêng đối với 01 Giấy phép lái xe cần trả lại cho bị cáo
Nguyễn Văn T.
Án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham
gia giao thông đường bộ”.
Áp dụng: Khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65
của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T 01 (một) năm tù, nhưng cho hưởng án
treo, thời gian thử thách là 02 (hai) năm kể từ ngày tuyên án (ngày 29/3/2021).
Giao bị cáo Nguyễn Văn T cho Ủy ban nhân dân xã N1, huyện N2, tỉnh
N3 giám sát trong thời gian thử thách.
Trường hợp người bị phạt tù được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì
thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa
vụ 02 (hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Xử lý vật chứng:
Áp dụng: Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tuyên: Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn T 01 Giấy phép lái xe hạng E số
790070005183 do Sở Giao thông vận tải tỉnh Ninh Thuận cấp ngày 30/3/2018.
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị
quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể
từ ngày tuyên án; Bị hại, bị đơn dân sự, người có quyền và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
(Đã giải thích chế định án treo cho bị cáo Nguyễn Văn T). * Nơi nhận:
| -VKSND tỉnh Bình Thuận; - VKSND huyện Hàm Tân; - Công an huyện Hàm Tân; - Cơ quan THAHS tỉnh Bình Thuận; - Những người tham gia tố tụng; - Chi cục THADS Hàm Tân; - UBND địa phương bị cáo cư trú; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thanh Phương |