vanban.org

Bản án 15/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương Tuyên án 26/03/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Trần Quốc Th phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt bị cáo Trần Quốc Th 36 (ba mươi sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 (sáu mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (26/3/2021). Giao bị cáo cho chính quyền Uỷ ban nhân dân phường T, quận H, thành phố Hải Phòng (nơi bị cáo cư trú) giám sát, giáo dục trong thời gian thử thá… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vi phạm quy định về tgia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Quốc Th phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN GIA LỘC, TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2021/HS-ST
Ngày 26/3/2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA LỘC, TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trịnh Thị Ngọc Mai

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Bùi Thị Thúy và bà Trần Thị Thanh Nhàn.

- Thư ký phiên toà: Ông Vũ Hoàng Long- Thư ký Toà án nhân dân huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Trác Dương- Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 3 năm 2021, tại phòng xét xử, Tòa án nhân dân huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 94/2020/TLST-HS ngày 30/12/2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2021/QĐXXST-HS ngày 19/01/2021; Thông báo về thời gian, địa điểm mở phiên tòa số 01 ngày 12/3/2021; Thông báo về việc thay đổi thời gian mở phiên tòa số 01 ngày 26/3/2021; đối với bị cáo:

Trần Quốc Th, sinh năm 1975 tại thành phố Hải Phòng; Nơi đăng ký hộ khẩu và cư trú tại: Số x đường B, phường T, quận H, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Ngọc T, sinh năm 1952 và bà Phạm Thị Tn, sinh năm 1955; có vợ là chị Hoàng Thị H, sinh năm 1980 và 02 con; tiền án, tiền sự: chưa; Bị cáo tại ngoại và đang chấp hành biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.

* Bị hại: Anh Trịnh Viết Ph, sinh năm 1985, địa chỉ: Thôn G, xã Đ, huyện N, tỉnh Hải Dương và chị Vũ Lan H, sinh năm 1991, địa chỉ: Thôn T, xã C, huyện T, tỉnh Hải Dương. (vắng mặt, có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt).

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Vũ Hồng C, sinh năm 1965 và bà Bùi Thị N, sinh năm 1971. Địa chỉ: Thôn T, xã C, huyện T, tỉnh Hải Dương (vắng mặt, có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt).

* Nguyên đơn dân sự: Công ty TNHH MTV quản lý và khai thác đường cao tốc Hà Nội- Hải Phòng. Địa chỉ trụ sở: Thôn TT, xã ĐT, huyện G, thành phố Hà Nội. Người đại diện theo pháp luật: Ông Đỗ Văn T, chức vụ: Giám đốc. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trịnh Quang M, chức vụ: Phó Trưởng phòng Phòng quản lý vận hành. (Ông M vắng mặt, có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Quốc Th là người được Sở Giao thông vận tải thành phố Hải Phòng cấp Giấy phép lái xe ô tô hợp lệ số 310060003700 hạng B2 ngày 18/01/2016, có giá trị đến ngày 18/01/2026. Khoảng 08 giờ ngày 05/3/2020, Trần Quốc Th điều khiển xe ô tô 08 chỗ ngồi, nhãn hiệu TOYOTA, loại xe LAND CRUISER, gắn biển số 30A-424.44 đi từ thành phố Hải Phòng trên đường cao tốc Hà Nội-Hải Phòng theo hướng từ thành phố Hải Phòng đi thành phố Hà Nội. Khoảng 09 giờ cùng ngày, Th điều khiển xe ô tô đến Km 44+500 đường cao tốc thuộc địa phận xã Y, huyện G, tỉnh Hải Dương. Tại đây, mặt đường hướng Hải Phòng đi Hà Nội được trải nhựa tương đối bằng phẳng, được chia thành 04 làn đường gồm: 03 làn đường dành cho xe chạy, tính từ phải sang trái theo hướng đi, được ký hiệu là L1, L2, L3, mỗi làn rộng 3,75m và 1 làn đường khẩn cấp rộng 3m. Tiếp giáp với mép đường phải là dải tôn sóng cao 0,85m, tiếp giáp với mép đường trái là dải phân cách giữa cao 1,35m. Giữa các làn đường có vạch kẻ sơn nét liền và nét đứt sơn màu trắng rộng 0,15m. Th điều khiển xe ô tô với tốc độ khoảng 100km/h và đi trên làn đường L2. Lúc này, Th dùng tay trái điều khiển vô lăng xe rồi nhoài người với tay phải mở cốp bên ghế phụ để lấy đồ, làm xe ô tô di chuyển sang làn đường L1. Do Th điều khiển xe ô tô với tốc độ cao, không chú ý quan sát phía trước, điều khiển xe đi không đúng làn đường, chuyển làn đường không có tín hiệu báo trước, không đảm bảo an toàn, dẫn đến phần đầu nắp ca pô bên phải và toàn bộ ba đờ sốc phía trước xe ô tô do Th điều khiển va chạm vào phần cốp sau, ba đờ sốc sau bên trái xe ô tô con 05 chỗ ngồi, nhãn hiệu KIA, loại xe MORNING, biển số 34A-120.98 do anh Trịnh Viết Ph, sinh năm 1985 ở thôn G, xã Đ, huyện N, tỉnh Hải Dương điều khiển đang đi phía trước cùng chiều ở làn đường L1 đường cao tốc, cùng ngồi trong xe tại vị trí ghế phụ bên phải là chị Vũ Lan H, sinh năm 1991, trú tại thôn T, xã C, huyện T, tỉnh Hải Dương (là vợ anh Ph). Sau khi bị va chạm, xe ô tô do anh Ph điều khiển bị mất lái, xe lao sang trái qua đầu xe ô tô của Th, đâm vào dải phân cách giữa đường, lộn 05 vòng trên đường cao tốc sau đó đổ nằm tại giữa làn đường L2 và L3, đầu xe ô tô hướng dải phân cách giữa, sau xe hướng mép đường phải.

Th nhìn qua gương chiếu hậu biết rõ xe ô tô do Th điều khiển đã gây tai nạn cho xe ô tô BKS: 34A-120.98 do anh Ph điều khiển, làm xe của anh Ph đâm vào giải phân cách giữa đường và lộn nhiều vòng trên đường cao tốc, nhưng Th không dừng xe, cố ý không cứu giúp những người bị nạn mà vẫn tiếp tục điều khiển xe bỏ chạy nhằm trốn tránh trách nhiệm. Th điều khiển xe ô tô ra khỏi đường cao tốc tại Trạm thu phí tỉnh Hưng Yên, sau đó đi về Công ty Cổ phần đầu tư thương mại L tại phường N, thành phố NB, tỉnh Ninh Bình nơi Th làm việc. Đến 17 giờ cùng ngày, biết không thể trốn tránh, Trần Quốc Th đến trình báo tại Công an huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương.

Kết quả khám nghiệm hiện trường vụ tai nạn giao thông và phương tiện giao thông: Xe ô tô biển số 30A-424.44 thấy: toàn bộ ba đờ sốc phía trước bị bẹp méo, có chiều từ trước lại sau, bề mặt còn dính lại nhiều chất bẩn màu đỏ; toàn bộ cụm đèn gầm bên phải bật chốt hãm rời khỏi xe; nắp ca pô bên phải bị xô dồn có chiều từ trước lại sau; cốp sau xe ô tô bị xô dồn, có chiều từ sau lại trước; kính chắn gió phía trước, phía sau bị vỡ vụn rời khỏi xe; ba đờ sốc phía sau bị rách, trên bề mặt có nhiều vết xây xước còn dính lại nhiều chất bẩn màu trắng đục; cầu sau bị cong đẩy có chiều từ phải sang trái. Xe ô tô 34A-120.98 bị hư hỏng nặng. Tại hiện trường, trên mặt đường còn in hằn hai vết lốp màu đen của xe ô tô 34A-120.98, hướng Hải Phòng- Hà Nội, dải phân cách giữa có nhiều vết trà xước màu đỏ- đen do xe ô tô 34A-120.98 va chạm vào tạo lên. Hiện trường còn rơi lại cụm đèn gầm bên phải của xe ô tô 30A-424.44, vị trí cách mép đường bên phải 0,8m. Một đoạn giải phân cách giữa của đường cao tốc Hà Nội- Hải Phòng bị hư hỏng. Sau tai nạn, chị H bị thương tích được mọi người đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa quốc tế Vimec, sau đó chuyển Bệnh viện Trung ương Quân đội 108. Anh Ph bị thương tích nhẹ.

- Tại Bản Kết luận Giám định pháp y về thương tíchsố 308a/TgT ngày 09/11/2020 của Phòng Giám định pháp y- Bệnh viện đa khoa tỉnh Hải Dương giám định thương tíchđối với chị Vũ Lan H kết luận:

“1. Dấu hiệu chính qua giám định:

- 02 sẹo vết thương phần mềm vùng đỉnh chẩm, mặt trước gối trái kích thước trung bình.

- Chấn thương phần mềm gây bầm tím vùng trán trái, cẳng tay phải. Hiện không phát hiện dấu vết tổn thương, di chứng. Căn cứ vào Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y Tế quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần thì không xác định được tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tíchgây ra với các tổn thương này (không phần trăm).

2. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây ra hiện tại là 04% (Bốn phần trăm).”

- Tại Bản Kết luận Giám định pháp y về thương tích số 308b/TgT ngày 09/11/2020 của Phòng Giám định pháp y- Bệnh viện đa khoa tỉnh Hải Dương giám định thương tích đối với anh Trịnh Viết Ph kết luận:

“1. Dấu hiệu chính qua giám định:

- Chấn thương phần mềm ngực. Hiện toàn thân không phát hiện dấu vết tổn thương, di chứng. Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y Tế quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần thì không được xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây ra với các tổn thương này (không phần trăm).

2. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây ra hiện tại là 0% (Không phần trăm).”

- Tại Bản Kết luận Hội đồng định giá tài sản số 20/KLĐG-HĐ ngày 05/6/2020 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự- Ủy ban nhân dân huyện Gia Lộc kết luận:

“- 01 (một) xe ô tô biển kiểm soát 34A-120.98, nhãn hiệu Kia (xe đã qua sử dụng), loại xe Kia Morning TA 12G E2 AT-1 số máy: G4LAFP044168, số khung: RNYTC51A4FC060205, màu sơn đỏ, xe do Việt Nam sản xuất năm 2015. Giá trị thiệt hại lập ngày 16/3/2020 là: 169.400.000đồng (Một trăm sáu mươi chín triệu, bốn trăm ngàn đồng chẵn).

- 04 (bốn) tấm bê tông (kích thước mỗi tấm 1,35m x 3,0m) bị trầy xước bề mặt do tai nạn giao thông gây ra làm hư hỏng phần phản quang thuộc dải phân cách giữa đường Cao tốc Hà Nội- Hải Phòng. Giá trị thiệt hại là: 6.882.000đồng (Sáu triệu, tám trăm tám mươi hai ngàn đồng chẵn).

Tổng giá trị thiệt hại là: 176.282.000đồng (Một trăm bẩy mươi sáu triệu, hai trăm tám mươi hai ngàn đồng).”

Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không ai có ý kiến hay khiếu nại gì về các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Bị cáo đã khắc phục sửa chữa hậu quả gây ra, tự nguyện bồi thường dân sự cho bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và nguyên đơn dân sự; những người này đã nhận đủ số tiền bồi thường và không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm; Bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại Cáo trạng số 40/CT-VKS ngày 06/5/2020, Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) huyện Gia Lộc truy tố Trần Quốc Th về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm c khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự (BLHS).

Tại phiên tòa: Đại diện VKSND huyện Gia Lộc vẫn giữ nguyên quan điểm như đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; các khoản 1, 2 và 5 Điều 65; Điều 41 BLHS; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Đề nghị tuyên bố bị cáo Trần Quốc Th phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”; đề nghị xử phạt bị cáo 36 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND phường T, quận H, thành phố Hải Phòng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Về hình phạt bổ sung: không; Về trách nhiệm dân sự: Không; Về vật chứng: Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật đề nghị Tòa án trả lại cho bị cáo 01 Giấy phép lái xe ô tô hạng B2 do Sở Giao thông vận tải thành phố Hải Phòng cấp mang tên Trần Quốc Th nếu bị cáo có yêu cầu; Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo thừa nhận khi điều khiển xe ô tô đi trên làn L2 đường cao tốc, do bị cáo không chú ý quan sát phía trước, điều khiển xe đi không đúng làn đường, chuyển làn đường (từ làn L2 sang làn L1) không có tín hiệu báo trước, không đảm bảo an toàn, dẫn đến xe bị cáo điều khiển va chạm vào xe của anh Ph. Lý giải lý do sau khi gây tai nạn bị cáo tiếp tục điều khiển xe khỏi hiện trường là vì hoang mang, lo sợ. Khi đến nơi làm việc, bị cáo đã trấn tĩnh lại tinh thần và quay trở lại Công an huyện Gia Lộc trình báo. Sau khi được giải thích các quy định của pháp luật, bị cáo đã nhận thức rõ và tỏ thái độ ăn năn, ân hận về hành động của bản thân. Bị cáo công nhận quyết định truy tố và luận tội của VKSND huyện Gia Lộc đối với bị cáo là đúng đồng thời nói lời sau cùng xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được hưởng mức án cải tạo tại địa phương.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định như sau:

Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra- Công an huyện Gia Lộc, Điều tra viên, VKSND huyện Gia Lộc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo, bị hại, đương sự không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đảm bảo quy định của pháp luật.

Về thủ tục tố tụng: Những người tham gia tố tụng trong vụ án đã được Tòa án triệu tập hợp lệ. Tại phiên tòa, vắng mặt bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, nguyên đơn dân sự. Xét thấy, trong quá trình điều tra, họ đã có lời khai rõ ràng về các tình tiết của vụ án, những người vắng mặt đều đã có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt. Như vậy, sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Căn cứ Điều 292 BLTTHS, HĐXX xét xử vắng mặt bị hại và đương sự trong vụ án.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với sơ đồ hiện trường vụ tai nạn giao thông, bản kết quả khám nghiệm hiện trường, kết quả khám nghiệm phương tiện giao thông liên quan, kết luận giám định thương tích và diễn biến hình ảnh được trích xuất từ camera số 26 đường Cao tốc Hà Nội- Hải Phòng cũng như toàn bộ lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và đại diện nguyên đơn dân sự và các tài liệu, chứng cứ được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, HĐXX có đủ cơ sở kết luận:

Trần Quốc Th được cấp Giấy phép lái xe ô tô hợp lệ. Khoảng 09 giờ ngày 05/3/2020, Trần Quốc Th điều khiển xe ô tô con 08 chỗ ngồi, nhãn hiệu TOYOTA, loại xe LAND CRUISER, biển kiểm soát 30A- 424.44 đi trên đường cao tốc Hà Nội- Hải Phòng, hướng Hải Phòng đi Hà Nội. Khi đến Km44+500 cao tốc thuộc địa phận xã Yết Kiêu, huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương, Th điều khiển xe ô tô với tốc độ khoảng 100km/h đang đi trên làn đường L2, không chú ý quan sát, không điều khiển xe trong làn đường quy định, chuyển làn đường không có tín hiệu báo trước và không bảo đảm an toàn dẫn đến phần đầu phía trước xe ô tô Th điều khiển va chạm vào phía sau bên trái xe ô tô con 05 chỗ ngồi, nhãn hiệu KIA, loại xe MORNING, biển số 34A-120.98 do anh Trịnh Viết Ph đang đi phía trước cùng chiều, trên làn đường L1 cao tốc, cùng ngồi trong xe tại ghế phụ bên phải là chị Vũ Lan H (là vợ anh Ph), làm xe ô tô do anh Ph điều khiển đâm vào giải phân cách giữa, lộn 05 vòng trên đường cao tốc. Th biết rõ xe mình đã gây tai nạn nhưng lại tiếp tục điều khiển xe ô tô bỏ chạy khỏi hiện trường nhằm trốn tránh trách nhiệm, cố ý không cứu giúp những người bị nạn. Đến 17 giờ cùng ngày, biết không thể trốn tránh, Th mới đến Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an huyện Gia Lộc trình báo. Hậu quả chị Vũ Lan H bị thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 04%, anh Trịnh Viết Ph bị thương xây xát nhẹ, tỷ lệ tổn thương cơ thể 0%; xe ô tô biển kiểm soát 34A-120.98 bị hư hỏng, giá trị tài sản bị thiệt hại là 169.400.000đồng; một đoạn dải phân cách giữa đường cao tốc Hà Nội- Hải Phòng bị hư hỏng, thiệt hại là 6.882.000đồng. Tổng giá trị tài sản bị thiệt hại là 176.282.000đồng.

Như vậy, Trần Quốc Th điều khiển xe ô tô tham gia giao thông đã vi phạm quy định của Luật giao thông đường bộ: Tại Điều 9 quy định: “1. Người tham gia giao thông phải đi bên phải theo chiều đi của mình, đi đúng làn đường, phần đường quy định và phải chấp hành hệ thống báo hiệu đường bộ”. Điều 13 quy định: “1. Trên đường có nhiều làn đường cho xe đi cùng chiều được phân biệt bằng vạch kẻ phân làn đường, người điều khiển phương tiện phải cho xe đi trong một làn đường và chỉ được chuyển làn đường ở những nơi cho phép; khi chuyển làn đường phải có tín hiệu báo trước và phải bảo đảm an toàn”. Bị cáo là người đã thành niên, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đã được học Luật Giao thông đường bộ và được cấp Giấy phép lái xe ô tô hạng B2 hợp lệ. Bị cáo đang điều khiển xe trên đường cao tốc đi ở làn đường L2, chuyển sang làn L1 nhưng không có tín hiệu báo trước, không đảm bảo an toàn, không chú ý quan sát, đã vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ, gây hậu quả nghiêm trọng làm một người bị thương (tỷ lệ tổn thương cơ thể 4%), làm hư hỏng tài sản của cơ quan, cá nhân (tổng giá trị thiệt hại 176.282.000đồng). Sau khi biết mình đã gây ra tai nạn khiến xe ô tô của anh Ph lộn 5 vòng rồi rơi xuống, mặc dù bị cáo hoàn toàn có điều kiện, khả năng dừng xe để xử lý hậu quả, cứu chữa người bị nạn nhưng bị cáo đã không làm như vậy mà tiếp tục điều khiển xe bỏ chạy khỏi hiện trường nhằm trốn tránh trách nhiệm. Chiều cùng ngày, nhận thức được hành vi trái pháp luật bị cáo đã đến Công an huyện Gia Lộc trình báo sự việc và chịu trách nhiệm trước pháp luật.

Từ những phân tích trên, HĐXX khẳng định hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” với tình tiết định khung tăng nặng “Bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 260 BLHS. Do đó, bị cáo bị VKSND huyện Gia Lộc truy tố về tội danh và điều khoản của Bộ luật Hình sự như nhận định của HĐXX là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông đường bộ, hậu quả gây thiệt hại cho tính mạng và tài sản của người khác. Vì vậy, cần thiết phải áp dụng mức hình phạt nghiêm, phù hợp với tính chất hành vi phạm tội của bị cáo mới có tác dụng răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo, góp phần lập lại trật tự trên lĩnh vực giao thông đường bộ.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 BLHS: Không. Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình; tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả do mình gây ra; bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, nguyên đơn dân sự không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm, người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS. HĐXX xem xét để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Căn cứ vào quy định của Bộ luật Hình sự, tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội, về nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, HĐXX thấy: Bị cáo là người có nhân thân tốt; có nơi cư trú rõ ràng ổn định; chưa có tiền án, tiền sự, từ trước đến nay không có vi phạm gì; Sau khi nhận thức được lỗi do mình gây ra, bị cáo đã rất ăn năn và đã tích cực khắc phục hậu quả, được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS; phạm tội lần đầu với lỗi vô ý. Căn cứ các quy định tại Điều 65 BLHS, Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo, HĐXX thấy không cần bắt bị cáo phải chấp hành hình phạt tù mà cho bị cáo được hưởng án treo cải tạo tại địa pH cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo, qua đó đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật đồng thời thể hiện giá trị nhân đạo, chính sách khoan hồng của pháp luật.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo sử dụng xe ô tô làm phương tiện đi lại, nên không áp dụng hình phạt bổ sung.

Về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng:

- Đối với chiếc xe ô tô biển số 34A-120.98 được xác định là tài sản thuộc sở hữu của ông Vũ Hồng Công và bà Bùi Thị Nghĩa. Ông Công cho anh Ph mượn xe để đi lại. Quá trình điều tra, bị cáo đã bồi thường toàn bộ thiệt hại của xe cho ông C, bà N; tự nguyện bồi thường toàn bộ chi phí điều trị ổn định sức khỏe, tổn thất về tinh thần... cho bị hại là chị H, anh Ph; bồi thường hư hỏng đoạn giải phân cách giữa đường cao tốc Hà Nội- Hải Phòng cho Công ty TNHH MTV quản lý và khai thác đường ô tô cao tốc Hà Nội- Hải Phòng. Chị H, anh Ph, ông C, bà N và đại diện Công ty TNHH MTV quản lý và khai thác đường ô tô cao tốc Hà Nội- Hải Phòng đều xác định về trách nhiệm dân sự đã thoả thuận giải quyết xong và đều không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm. Cơ quan cảnh sát điều tra- Công an huyện Gia Lộc đã trả lại 2 xe ôtô biển số 34A-120.98 và 34A- 424.44 cùng các giấy tờ kèm theo cho ông Công và bị cáo. Như vậy, việc giải quyết bồi thường dân sự, trả lại xe ô tô cùng các giấy tờ liên quan cho chủ sở hữu hợp pháp là đảm bảo quy định của pháp luật, HĐXX không xem xét.

- Đối với bản chính Giấy phép lái xe ô tô hạng B2 do Sở Giao thông vận tải thành phố Hải Phòng cấp cho Trần Quốc Th: Bị cáo không bị áp dụng hình phạt bổ sung nên được Tòa án trả lại tài liệu này.

- Đối với 01 USB chứa dữ liệu hình ảnh trích xuất từ Camera số 26 đường cao tốc Hà Nội- Hải Phòng ghi lại diễn biến vụ tai nạn giao thông do Ban quản lý đường cao tốc Hà Nội- Hải Phòng giao nộp đã được niêm phong trong phong bì dán kín theo quy định của pháp luật, tiếp tục được lưu trong hồ sơ vụ án làm căn cứ chứng minh tội phạm.

Về án phí: Bị cáo bị kết án là có tội phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 260; các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điều 41 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 136; Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố: Bị cáo Trần Quốc Th phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt bị cáo Trần Quốc Th 36 (ba mươi sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 (sáu mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (26/3/2021).

Giao bị cáo cho chính quyền Uỷ ban nhân dân phường T, quận H, thành phố Hải Phòng (nơi bị cáo cư trú) giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa pH trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Trả lại cho bị cáo 01 bản chính Giấy phép lái xe ô tô số 310060003700 hạng B2 do Sở Giao thông vận tải thành phố Hải Phòng cấp ngày 18/01/2016, có giá trị đến ngày 18/01/2026 mang tên Trần Quốc Th.

3. Về án phí: Bị cáo Trần Quốc Th phải chịu 200.000đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (26/3/2021); Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án theo quy định của pháp luật; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án theo quy định của pháp luật; Nguyên đơn dân sự có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến việc bồi thường thiệt hại trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ