- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Minh Hiếu vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sử…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Bùi Minh H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH - LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 15/2021/HS-ST Ngày 04 - 3 - 2021 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH - TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Bùi Văn Sỹ.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Đào Duy Trâm;
2. Bà Trần Thị Phúc.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Bá Cường Huy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh L.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh, tỉnh L tham gia phiên tòa: Ông Phạm Quang Tuyên - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 3 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh L. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 02/2021/TLST-HS ngày 21/01/2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2021/QĐXXST-HS ngày 17/02/2021, đối với:
1. Bị cáo: Bùi Minh H; sinh năm 1997 tại L; nơi ĐKNKTT: Thôn B, xã N, huyện Đ, tỉnh G; nơi cư trú: Thôn 1, xã Hòa Trung, huyện Di Linh, tỉnh L; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Bùi Văn K và bà Đỗ Thị T; tiền án: Không; tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại có mặt.
2. Bị hại: Anh Nguyễn Văn Q; sinh năm 1995; đã chết ngày 24/6/2020.
Người đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Nguyễn Văn P; sinh năm 1961; nơi cư trú: Thôn C, xã A, huyện B, tỉnh L (là cha của bị hại). Có mặt.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Phạm Thị S; sinh năm 1971; nơi cư trú: Thôn Z, xã H, huyện D, tỉnh L. Có mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Bùi Minh H là người được cấp giấy phép lái xe hạng C. Vào khoảng 14 giờ 20 phút ngày 24/6/2020, bị cáo H điều khiển xe ô tô tải loại 15 tấn biển kiểm soát 49C - 187.21 lưu thông trên Quốc lộ 20 từ Thôn V, xã Đ, huyện D đến Thôn J, xã H, huyện D, tỉnh L. Khi đến Km 137 + 100 Quốc lộ 20 thuộc Thôn 2, xã H và còn cách lối rẽ vào đường hẻm phía bên phải khoảng 30m, bị cáo H nhìn vào gương chiếu hậu thấy 01 xe mô tô (xe biển kiểm soát 49H – 190.02 do anh Nguyễn Văn H điều khiển) đi cùng chiều phía sau khoảng 90m đến 100m nên H giảm tốc độ và bật đèn báo rẽ bên phải. Khi xe ô tô còn cách đường hẻm khoảng 10m, bị cáo H nhìn lại gương chiếu hậu nhưng lúc này xe mô tô do anh Q điều khiển phía sau rơi vào vị trí điểm mù nên bị cáo H không nhìn thấy. Vì vậy, khi bị cáo H đánh tay lái cho xe rẽ về bên phải để vào đường hẻm thì va chạm với xe mô tô của anh Q. Phát hiện tai nạn, bị cáo H dừng xe lại và cùng người dân gần đó đưa anh Q đi cấp cứu, tuy nhiên do bị thương quá năng nên anh Q tử vọng cùng ngày. Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 161/2020/TT ngày 29/6/2020 của Trung tâm pháp y tỉnh L đã kết luận anh Nguyễn Văn Q tử vong do đa chấn thương vì tai nạn giao thông.
Sau khi xảy ra tai nạn, Cơ quan điều tra đã tạm giữ xe ô tô tải biển kiểm soát 49C - 187.21 đứng tên bà Phạm Thị S; 01 giấy phép lái xe ô tô hạng C của bị cáo H; xe mô tô biển kiểm soát 49H – 190.02 đứng tên ông Nguyễn Văn P. Sau khi kết thúc điều tra đã trả lại xe ô tô và xe mô tô cho chủ sở hữu. Bị cáo H đã bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 240.000.000 đồng để khắc phục hậu quả. Gia đình bị hại tự nguyện có đơn xin bãi nại và không yêu cầu bồi thường gì thêm.
Kết quả điều tra cho thấy anh Nguyễn Văn Q không có giấy phép lái xe phù hợp với xe mô tô biển kiểm soát 49H – 190.02, tại thời điểm xảy ra tai nạn, nộng độ cồn (Ethanol) trong máu của anh Nguyễn Văn Q là 135.15 mg/dL máu. Quá trình điều tra, bị cáo H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nêu ở trên.
Tại Bản cáo trạng số: 07/CTr-VKS ngày 19/01/2021 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Di Linh đã truy tố bị cáo Bùi Minh H về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, bị cáo H thành khẩn thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã nêu, thừa nhận việc truy tố của Viện kiểm sát là đúng người, đúng tội, có thái độ ăn năn hối cải và mong nhận được sự khoan hồng của pháp luật. Đại diện hợp pháp của bị hại là ông Nguyễn Văn P đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa khẳng định hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Đề nghị áp dụng Điều 35, các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự. Áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính, xử phạt bị cáo Bùi Minh H từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi tố tụng của Điều tra viên và của Cơ quan Điều tra Công an huyện Di Linh, Kiểm sát viên và của Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình tố tụng bảo đảm cho bị cáo và những người tham gia tố tụng khác thực hiện quyền, nghĩa vụ đúng quy định của pháp luật, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án đều hợp pháp.
Về tội danh: Lời khai của bị cáo, của đại diện bị hại, của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tại phiên tòa phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án như: Kết quả khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện liên quan đến tai nạn; Kết luận giám định pháp y về tử thi số: 161/2020/TT ngày 29/6/2020 của Trung tâm pháp y tỉnh L. Qua đó xác định: Bị cáo Bùi Minh H được Sở Giao thông vận tải Thành phố F cấp giấy phép lái xe hạng C ngày 06/01/2020, có giá trị đến ngày 06/01/2025 (được phép điều khiển ô tô tải có trong tải từ 3500kg trở lên). Vào khoảng 14 giờ 20 phút ngày 24/6/2020, bị cáo H điều khiển xe ô tô tải loại có trọng tải 15 tấn mang biển kiểm soát 49C - 187.21 chở đất lưu thông trên Quốc lộ 20 từ Thôn 4, xã Đinh Trang Hòa, huyện Di Linh đến Thôn V, xã H, huyện D, tỉnh L. Khi đến Km 137 + 100 Quốc lộ 20 thuộc Thôn V, xã H, bị cáo H chuẩn bị cho xe rẽ vào đường hẻm phía bên phải theo hướng lưu thông. Khi còn cách đường hẻm khoảng 30m, bị cáo H giảm tốc độ và bật đèn báo rẽ bên phải, quan sát qua gương cH hậu nhìn thấy 01 người đang điều khiển xe mô tô đi phía sau cùng chiều và cách xe của H khoảng 90m đến 100m (là xe mô tô biển kiểm soát 49H – 190.02 do anh Nguyễn Văn Q điều khiển). H tiếp tục điều khiển xe ô tô đến vị trí cách đường hẻm khoảng 10m và nhìn lại gương cH hậu, lúc này xe mô tô do anh Q đi phía sau rơi vào vị trí điểm mù nên H không nhìn thấy qua gương chiếu hậu. Vì vậy, khi H chuyển hướng cho xe ô tô rẽ phải vào đường hẻm đúng vào lúc xe mô tô do anh Q điều khiển vượt lên trước ở bên phải của xe ô tô do H điều khiển, nên xe mô tô do anh Q điều khiển đã tông vào mặt ngoài bánh trước bên phải xe ô tô do H điều khiển làm anh Q ngã về bên phải bị thương nặng dẫn đến tử vong. Lỗi chính dẫn đến xảy ra tai nạn là do bị cáo H điểu khiển xe chuyển hướng vào đường hẻm khi chưa đảm bảo điều kiện an toàn. Tuy nhiên về phía bị hại anh Nguyễn Văn Q cũng có lỗi do không giảm tốc độ đến mức an toàn khi có chướng ngại vật phía trước, vượt xe về phía phía bên phải ở nơi có đường giao nhau trong khi xe lưu thông phía trước đã có tín hiệu báo rẽ về phía bên phải.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và mức hình phạt: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải; bị cáo đã tự nguyện bồi thường 240.000.000 đồng để khắc phục hậu quả và được đại diện bị hại xin giảm nhẹ hình phạt; bị hại cũng có lỗi để xảy ra tai nạn. Vì vậy, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo có nhân thân tốt, ngoài lần phạm tội này bị cáo luôn chấp hành đúng chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ công nơi cư trú. Xét bị cáo phạm tội do lỗi vô ý, không có tình tiết tăng nặng và có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú, nơi làm việc rõ ràng, ổn định. Trong vụ án này bị hại cũng có lỗi dẫn đến tại nạn. Qua đó cho thấy bị cáo có khả năng tự cải tạo mà không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội và công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm. Vì vậy, cần căn cứ Điều 35, các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Áp dụng phạt tiền là hình phạt chính đối với bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ và đúng pháp luật.
Về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng: Quá trình điều tra, bị cáo đã bồi thường cho gia đình bị hại 240.000.000 đồng, nay đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét. Đối với vật chứng là xe ô tô tải biển kiểm soát 49C - 187.21 của bà Phạm Thị S, xe mô tô biển kiểm soát 49H – 190.02 của ông Nguyễn Văn P đã được cơ quan Điều tra trả cho chủ sở hữu nên không đề cập đến. Đối với 01 giấy phép lái xe ô tô hạng C mang tên Bùi Minh H đang lưu trong hồ sơ vụ án cần trả cho bị cáo là phù hợp.
Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.Cần buộc bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Bùi Minh H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Áp dụng Điều 35, Điều 50, các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Bùi Minh H 40.000.000 đồng (Bốn mươi triệu đồng).
Về vật chứng: Trả cho bị cáo Bùi Minh H 01 giấy phép lái xe hạng C số: 790190015369, do Sở Giao thông Vận tải Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 06/01/2020 (hiện đang lưu trong hồ sơ vụ án)
Về án phí: Buộc bị cáo Bùi Minh H phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh L xét xử theo thủ tục phúc thẩm (người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chỉ có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền, nghĩa vụ của mình).
| Nơi nhận - TAND Tỉnh LĐ; - VKSND tỉnh LĐ; - VKSND huyện; - CQ Điều tra Công an huyện; - CQ Thi hành án hình sự; - Chi cục THADS D; - Sở TP tỉnh L; - Sở TP tỉnh Đ; - Bị cáo; đại diện bị hại; - Người có QL, NV liên quan; - Lưu án văn (1); hồ sơ (1) | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Bùi Văn Sỹ |