vanban.org

Bản án 15/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về ngoại tình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tố tụng Dân sự năm 2015, các Điều 51, 81, 82, 107, 110, 116 và 118 Luật Hôn

nhân gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về ngoại tình — án hôn nhân và gia đình — "Trần Thị L ly hôn ông Nguyễn Minh P"
  • Tòa quyết gì? Tố tụng Dân sự năm 2015, các Điều 51, 81, 82, 107, 110, 116 và 118 Luật Hôn
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐỨC HUỆ
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 30-3-2021
V/v “Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HUỆ TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Gái.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Dương Tấn Thành.

2. Bà Nguyễn Thị Hạnh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Thị Bé Đào - Thư ký Tòa án Tòa án nhân dân

huyện Đức Huệ, tỉnh Long An.

Ngày 30 tháng 3 năm 2021, tại trụ sở, Tòa án nhân dân huyện Đức Huệ xét

xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 272/2020/TLST-HNGĐ

ngày 12 tháng 11 năm 2020 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra

xét xử số 20/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 02 năm 2021, giữa các đương

sự:

- Nguyên đơn: Bà Trần Thị L - Sinh năm 1987 - Hộ khẩu thường trú: ấp A,

thị trấn B, huyện C, tỉnh Cà Mau - Chỗ ở hiện nay: 588/5 khu phố D, phường E, thị

xã K, tỉnh Bình Dương. (Vắng mặt)

- Bị đơn: Ông Nguyễn Minh P - Sinh năm 1989 - Địa chỉ: ấp U, xã N, huyện

T, tỉnh Long An. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 23/10/2020, các văn bản tiếp theo, nguyên đơn bà

Trần Thị L trình bày:

Bà và ông Nguyễn Minh P xác lập quan hệ vợ chồng và có đăng ký kết hôn

ngày 15/11/2017 tại Ủy ban nhân dân xã Bình Hòa Bắc, huyện Đức Huệ, tỉnh Long

An. Chung sống hạnh phúc đến năm 2017 thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do

bất đồng quan điểm sống, ông P không lo làm ăn và có mối quan hệ bất chính với

người phụ nữ khác. Ly thân từ tháng 10 năm 2017 cho đến nay.

Về hôn nhân: Bà yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Minh P.

Về nuôi con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Minh S, sinh ngày

30/10/2017, hiện đang sống với bà. Khi ly hôn bà yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung, không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con chung.

Về chia tài sản chung, nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Nguyên đơn bà L có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn ông P vắng mặt tại

phiên tòa không có lý do lần thứ hai nên Tòa án tiến hành xét xử vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Bà Trần Thị L khởi kiện yêu cầu ly hôn ông Nguyễn Minh P, Tòa án

nhân dân huyện Đức Huệ tỉnh Long An thụ lý giải quyết vụ án là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

Ông P được tống đạt hợp lệ các thủ tục tố tụng của Tòa án nhưng ông

không cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh cho quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng của ông, không có mặt để tham gia phiên tòa lần thứ hai không có lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét đơn khởi kiện của bà L theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015. Ông P không được quyền khiếu nại về việc cung cấp chứng cứ, tham gia hòa giải và tham gia phiên tòa vì ông đã không có mặt theo thông báo và giấy triệu tập của Tòa án, không thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông theo quy định pháp luật.

Bà Trần Thị L và ông Nguyễn Minh P chung sống có đăng ký kết hôn

ngày 15/11/2017 tại Uỷ ban nhân dân xã Bình Hòa Bắc, huyện Đức Huệ, tỉnh Long An. Quan hệ hôn nhân giữa bà L và ông P là hôn nhân hợp pháp theo quy định của pháp luật Hôn nhân và gia đình.

Xét yêu cầu ly hôn của bà L, Hội đồng xét xử nhận định: Bà L cho rằng

vợ chồng xảy ra mâu thuẫn nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, ông P không lo làm ăn và có mối quan hệ bất chính với người phụ nữ khác. Ông P vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án và cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình nên không có căn cứ xem xét; qua lời trình bày của bà L, Hội đồng xét xử nhận định mâu thuẫn giữa bà L và ông P đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, ông bà đã sống ly thân, tự mỗi người lo cho bản thân, không quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Do đó, việc bà L yêu cầu ly hôn với ông P là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về nuôi con chung: Xét yêu cầu nuôi con chung Nguyễn Minh S, sinh

ngày 30/10/2017 của bà L, Hội đồng xét xử nhận định: từ khi bà L và ông P sống ly

thân, con chung do bà L nuôi dưỡng; ông P vắng mặt trong suốt quá trình giải

quyết vụ án không tranh chấp về quyền nuôi con chung. Vì vậy, nhằm tránh sự ảnh

hưởng về tâm lý con chung và đảm bảo quyền lợi ích hợp pháp của con chung nên

giao cho bà L tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân

gia đình năm 2014.

Xét việc bà L không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con chung là tự

nguyện, phù hợp quy định tại các Điều 82, 107, 110, 116 và 118 Luật Hôn nhân và

gia đình năm 2014 nên ghi nhận.

Về chia tài sản chung và nợ chung: bà L trình bày không có, không yêu

cầu nên không xem xét. Nếu sau này phát sinh tranh chấp tách ra giải quyết bằng

vụ án khác.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ

Quốc hội, xét thấy:

Bà L là nguyên đơn trong vụ án ly hôn nên phải chịu 300.000 đồng tiền

án phí ly hôn, nhưng được khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ

thẩm đã nộp. Bà L đã nộp đủ án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1

Điều 39, Điều 147, khoản 1 và điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật

Tố tụng Dân sự năm 2015, các Điều 51, 81, 82, 107, 110, 116 và 118 Luật Hôn

nhân gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016

của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

1. Về hôn nhân: Bà Trần Thị L được ly hôn với ông Nguyễn Minh P.

2. Về nuôi con chung: Bà Trần Thị L được quyền trực tiếp nuôi con chung

tên Nguyễn Minh S, sinh ngày 30/10/2017, hiện đang sống với bà L. Ông Nguyễn

Minh P không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Ông P được quyền tới lui thăm nom và chăm sóc con chung, khi cần thiết vì

lợi ích con chung, bà L và ông P có quyền yêu cầu thay đổi tình trạng nuôi con và

yêu cầu thay đổi khoản cấp dưỡng nuôi con theo luật hôn nhân và gia đình.

3. Về chia tài sản chung và nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải

quyết.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Trần Thị L phải chịu 300.000 đồng tiền án

phí ly hôn, khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp (theo biên lai thu số 0008867 ngày 12/11/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Huệ). Bà L đã nộp đủ tiền án phí.

5. Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo thủ

tục phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ