vanban.org

Bản án 15/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nh n: Chị Trần Thị Tú T được ly hôn với anh Trần Nhựt N.

Về quan hệ nuôi con: Giao các cháu Trần Nhựt M, sinh ngày 22/9/2004, giới tính nam và Trần Anh T2, sinh ngày 07/11/2008, giới tính nam cho chị Trần Thị Tú T trực tiếp nuôi. Ghi nhận việc chị T không yêu cầu anh Trần Nhựt N cấp dưỡng chi phí nuôi con chung. Chị T cùng các thành viên gia đình không đư… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn Trần Thị Tú T - Trần Nhựt N"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nh n: Chị Trần Thị Tú T được ly hôn với anh Trần Nhựt N.
  • Căn cứ chính? Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng d n sự; Điều 56 Luật Hôn nh n và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ H
TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 29/4/2021
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Tạ Chí Dũng.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Vũ Thanh Học.

2. Bà Trần Thị An.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Tuấn – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố H, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố H, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Bà L m Thanh Th y – Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 4 năm 2021, tại Phòng xử án Tòa án nh n d n thành phố H, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 176/2020/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 11 năm 2020 về tranh chấp ly hôn, nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 3 năm 2021 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Trần Thị Tú T, sinh năm 1985. (có mặt)

Địa chỉ: Số 185, đường N, Khu phố Y, phường C, thành phố H, tỉnh Kiên Giang.

2. Bị đơn: Anh Trần Nhựt N, sinh năm 1981. (vắng mặt)

Địa chỉ: Hẻm 6, Khu phố X, phường C, thành phố H, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn chị Trần Thị Tú T trình bày: Chị Trần Thị Tú T và anh Trần Nhựt N kết hôn và chung sống với nhau từ tháng 02/2004, có đăng ký kết hôn và được UBND phường C, thị xã H (nay là thành phố H), tỉnh Kiên Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn số 012, ngày 11/02/2004. Thời gian đầu, vợ chồng chung sống hạnh phúc. Thời gian sau này thì vợ chồng phát sinh m u thuẫn, thường xuyên cự cãi, anh N hành hung, đánh đập chị T nhiều lần và dọa giết chị T nếu xin ly hôn, nên chị T rất sợ và trốn tránh không dám về nhà. Nhận thấy m u thuẫn trong cuộc sống giữa vợ chồng không thể tự giải quyết, không hàn gắn được, dẫn đến chị T không còn tình cảm với anh N và cả hai không còn chung sống với nhau. Nay chị T yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết cho chị được ly hôn với anh N.

Về con chung: Chị T trình bày giữa chị và anh N có với nhau 02 đứa con chung lần lượt tên Trần Nhựt M, sinh ngày 22/9/2004, giới tính nam; Trần Anh T2, sinh ngày 07/11/2008, giới tính nam. Khi ly hôn, tùy nguyện vọng c a con theo ai thì người đó nuôi, người còn lại có bổn phận cấp dưỡng theo khả năng.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị T trình bày giữa chị và anh N không có tài sản chung và không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Từ khi thụ lý vụ án và trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Trần Nhựt N đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không đến Tòa án làm việc, không thể hiện ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện c a chị T.

Nguyên đơn đã cung cấp cho Tòa án các tài liệu chứng cứ liên quan yêu cầu khởi kiện bao gồm: Trích lục kết hôn giữa chị T và anh N (bản sao); 02 trích lục khai sinh c a con chung tên Trần Nhựt M, Trần Anh T2 (bản sao).

Tại phiên tòa, chị T vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Về con chung do các con đều có nguyện vọng muốn sống chung với mẹ nên chị T đồng ý nhận trực tiếp nuôi 02 con và không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến tại phiên tòa như sau:

- Việc tu n theo pháp luật tố tụng c a Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử: Vụ án thụ lý là đúng thẩm quyền và đúng quan hệ pháp luật; xác định đầy đ và đúng tư cách những người tham gia tố tụng; lập hồ sơ, thu thập chứng cứ đầy đ ; gửi các văn bản tố tụng cho Viện kiểm sát và cấp, tống đạt văn bản tố tụng cho những người tham gia tố tụng đúng quy định; gửi Quyết định đưa vụ án ra xét xử và gửi hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát nghiên cứu đúng quy định.

- Đối với việc chấp hành pháp luật c a người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện quyền, nghĩa vụ c a mình đúng quy định c a Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện quyền, nghĩa vụ c a mình đúng quy định c a Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị Trần Thị Tú T được ly hôn với anh Trần Nhựt N, giao các cháu Trần Nhựt M, sinh ngày 22/9/2004, giới tính am và Trần Anh T2, sinh ngày 07/11/2008, giới tính am cho chị T trực tiếp nuôi và ghi nhận việc chị T không yêu cầu anh N cấp dưỡng chi phí nuôi con chung; về tài sản chung và nợ chung do các bên không yêu cầu nên không xem xét giải quyết. Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí hôn nh n và gia đình sơ thẩm theo quy định c a pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Trần Thị Tú T khởi kiện yêu cầu được ly hôn với anh Trần Nhựt N và yêu cầu được quyền nuôi con chung. Đ y là tranh chấp ly hôn, nuôi con chung theo quy định tại khoản 1 Điều 28 c a Bộ luật Tố tụng d n sự. Bị đơn anh Trần Nhựt N có nơi cư trú tại Khu phố X, phường C, thành phố H, tỉnh Kiên Giang. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 c a Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết c a Tòa án nhân dân thành phố H, tỉnh Kiên Giang.

Về sự vắng mặt c a đương sự: Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ khoản 2 Điều 227 c a Bộ luật Tố tụng d n sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Về nội dung:

Về hôn nh n: Căn cứ vào trích lục kết hôn số 313/TLKH-BS ngày 07/9/2020 c a y ban nh n d n phường C, thành phố H và lời trình bày c a nguyên đơn, Hội đồng xét xử xác định giữa chị Trần Thị Tú T và anh Trần Nhựt N có quan hệ hôn nh n, được UBND phường C, thị xã H (nay là thành phố H), tỉnh Kiên Giang cho đăng ký kết hôn vào ngày 11/02/2004, nên đ y là hôn nh n hợp pháp, đảm bảo điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn phù hợp quy định c a pháp luật.

Đối với yêu cầu khởi kiện ly hôn c a chị T với anh N, Hội đồng xét xử xét thấy chị T trình bày cuộc sống vợ chồng l m vào tình trạng trầm trọng, mâu thuẫn là do giữa anh chị thường xuyên cãi nhau, anh N hành hung, đánh đập chị T nhiều lần, nên chị T phải bỏ nhà đi sinh sống chỗ khác. Cho đến nay giữa anh chị cũng không về chung sống lại với nhau, không quan t m, chăm sóc, thăm hỏi nhau và chị T không còn tình cảm với anh N. Thậm chí trong thời gian chuẩn bị xét xử, anh N còn hành hung, đánh đập chị vô cớ, g y đau đớn về thể xác lẫn tinh thần c a chị T. Tình cảm vợ chồng giữa anh, chị đã rạn nứt dẫn đến không thể tiếp tục chung sống với nhau. Qua xác minh tại địa phương c a chị T và anh N sinh sống thì địa phương không r việc m u thuẫn vợ chồng giữa anh, chị nhưng anh N vừa đi cai nghiện mới về. Qua tham khảo ý kiến c a đại diện hai bên gia đình c a anh N và chị T đều thể hiện giữa anh, chị thường xuyên cãi vả, anh N thường đánh đập chị T và là người đi cai nghiện mới về. Trong thời gian chuẩn bị xét xử, Tòa án đã thông báo tổ chức hòa giải cho các bên nhưng anh N vắng mặt không lý do, nên Tòa án không tiến hành hòa giải được quan hệ hôn nh n cho anh, chị. Điều này chứng tỏ anh N không thể hiện ý kiến, nguyện vọng mong muốn hàn gắn, đoàn tụ với chị T. Xét thấy giữa chị T và anh N không còn tồn tại nghĩa vụ thương yêu, quan t m, chăm sóc, giúp đỡ nhau và không còn chung sống với nhau; hôn nh n giữa anh, chị đã l m vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, hạnh phúc hôn nh n không đạt được. Vì vậy, yêu cầu ly hôn c a chị T là có cơ sở chấp nhận. Căn cứ Điều 19 và Điều 56 c a Luật Hôn nh n và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị T được ly hôn anh N.

Về con chung: Chị T và anh N có với nhau 02 đứa con chung lần lượt tên Trần Nhựt M, sinh ngày 22/9/2004, giới tính nam và Trần Anh T2, sinh ngày 07/11/2008, giới tính nam. Chị T yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi cả hai con đến tuổi trưởng thành, phù hợp với nguyện vọng c a các con muốn được sống với mẹ là chị T, nên cần tiếp tục giao hai cháu cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, phù hợp quy định tại Điều 81 c a Luật Hôn nh n và Gia đình. Ghi nhận việc chị T không yêu cầu anh N cấp dưỡng chi phí nuôi con chung. Chị T cùng các thành viên gia đình không được cản trở anh N trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Chị T trình bày giữa chị và anh N không có tài sản chung và không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử miễn xét.

Về án phí: Chị T phải chịu án phí hôn nh n và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng theo quy định c a pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227 c a Bộ luật Tố tụng d n sự;

Căn cứ các điều 19, 56, 57, 58, 81, 82, 83 c a Luật Hôn nh n và Gia đình;

Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 c a y ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

1. Về quan hệ hôn nh n: Chị Trần Thị Tú T được ly hôn với anh Trần Nhựt N.

2. Về quan hệ nuôi con: Giao các cháu Trần Nhựt M, sinh ngày 22/9/2004, giới tính nam và Trần Anh T2, sinh ngày 07/11/2008, giới tính nam cho chị Trần Thị Tú T trực tiếp nuôi. Ghi nhận việc chị T không yêu cầu anh Trần Nhựt N cấp dưỡng chi phí nuôi con chung. Chị T cùng các thành viên gia đình không được cản trở anh N trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

3. Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Chị T và anh N không có yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

4. Về án phí: Chị Trần Thị Tú T phải chịu án phí hôn nh n và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng. Đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị T đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0009186 ngày 16/11/2020 c a Chi cục Thi hành án d n sự thành phố H, tỉnh Kiên Giang, chị T không phải nộp thêm.

5. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 c a Luật thi hành án d n sự thì người được thi hành án d n sự, người phải thi hành án d n sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 c a Luật thi hành án d n sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 c a Luật thi hành án d n sự.

Cỡ chữ