- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị T ly hôn anh N"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông ông P T S.
- Căn cứ chính? Điều 14 Luật hôn nhân và gia đình và điểm a; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 15 Luật hôn nhân và gia đình và điểm a
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BM TỈNH VL | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:02/2021/HNGĐ-ST Ngày: 08/01/2021 “V/v Tranh chấp Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BM, TỈNH VL
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà N T L T.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông S M;
Bà N T K L.
- Thư ký phiên tòa: Ông C V T S – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã BM.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã BM tham gia phiên tòa: thuộc trường hợp không tham gia.
Trong ngày 08 tháng 01 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã BM xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục thông thường vụ án thụ lý số: 288/2020/TLST-HNGĐ, ngày 15 tháng 10 năm 2020 về việc: “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 93/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 12 năm 2020 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông P T S, sinh năm 1970 – Xin vắng.
Địa chỉ: K 4, phường CV, thị xã BM, tỉnh VL.
- Bị đơn: Bà C T M, sinh năm 1975 – Xin vắng;
Địa chỉ: 2299/3, ấp MH 1, xã MH, thị xã BM, tỉnh VL.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại Đơn khởi kiện ngày 09 tháng 10 năm 2020, nguyên đơn ông P T S trình bày: Vào tháng 5 năm 1993, ông S và bà M do quen biết tìm hiểu rồi tiến đến hôn nhân, có tổ chức lễ cưới nhưng không có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật.
Trong quá trình chung sống giữa ông S và bà M không có con chung và vợ chồng không có tạo lập được tài sản chung, không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ông S cho rằng mâu thuẩn vợ chồng do bất đồng quan điểm sống nên dẫn đến việc vợ chồng thường xuyên cự cãi nhau và cả hai đã ly thân từ tháng 8 năm 2003 đến nay. Nay ông S nhận thấy cuộc sống không thể hàn gắn được nên yêu cầu Tòa án giải quyết các vấn đề sau:
- Về hôn nhân: Ông S yêu cầu được ly hôn với bà C T M;
- Về con chung: Không có.
- Về tài sản chung, nợ chung: Ông S không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Tại đơn xin vắng mặt đề ngày 28/12/2020 của bà C T M trình bày: Bà M đồng ý yêu cầu ly hôn của ông P T S. Giữa bà M và ông S không có con chung và không có tài sản chung, không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do bận việc gia đình nên bà M xin vắng mặt tại phiên tòa và cam kết không có bắt cứ khiếu nại gì về sau.
* Tại phiên tòa sơ thẩm:
- Nguyên đơn có đơn xin vắng đề ngày 26/10/2020 nêu: Vẫn giữ yêu cầu khởi kiện và xin vắng mặt tại phiên tòa do bận đi làm.
- Bị đơn vắng mặt đề ngày 28/12/2020;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
- Nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với bà C T M là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Bị đơn có đăng ký thường trú tại thị xã BM, nên yêu cầu ly hôn của nguyên đơn là thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã BM theo quy định tại các Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Ông P T S và bà C T M xin vắng mặt nên phiên tòa nên phiên tòa được tiến hành vào ngày 08/01/2021 theo đúng trình tự, thủ tục quy định tại khoản 1, Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Ông P T S và C T M được xác lập trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức lễ cưới nhưng không có đăng ký kết hôn là hôn theo quy định của pháp luật. Quá trình chung sống thì ông S và bà M bất đồng quan điểm, không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau, tình cảm vợ chồng không còn, giữa ông S và bà M không còn khả năng đoàn tụ, vợ chồng đã ly thân từ năm 2003 đến nay. Nay ông S xác định tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không hạnh phúc, không thể đoàn tụ nên anh cương quyết xin ly hôn bà M.
Tại khoản 1, Điều 14 Luật hôn nhân và gia đình quy định: “ Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng”. Như vậy, ông S và bà M chung sống với nhau từ năm 1993 đến nay không có đăng ký kết hôn mặc dù có đủ điều kiện kết hôn, xong các bên không thực hiện nghĩa vụ kết hôn mà vẫn chung sống cùng nhau là hôn nhân bất hợp pháp, không được pháp luật công nhận là vợ chồng. Do vậy Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông P T S, không công nhận ông P T S và bà C T M là vợ chồng.
Về con chung: Không có.
Về tài sản chung và nợ chung: Ông S và bà M không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về án phí: Áp dụng khoản 4, Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 về mức thu, miễn, giảm, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí tòa án, ông P T S là nguyên đơn trong vụ án hôn nhân gia đình nên phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39 và khoản 1, Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1, Điều 14, Điều 15, Điều 51 và Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình và điểm a, khoản 5, Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 về mức thu, miễn, giảm, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông ông P T S.
1. Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận ông P T S và và C T M là vợ chồng.
2. Về con chung: Không có.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa giải quyết.
4. Về án phí: Ông P T S phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000 đồng. Ông S được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0010459, ngày 15/10/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã BM. Vậy ông S đã nộp xong án phí.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Các đương sự có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ( Mười lăm ) ngày kể từ ngày được giao bản án hoặc bản án được niêm yết.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - TAND tỉnh VL: 01 - VKSND TXBM: 01 - Chi cục THADS TXBM: 01 - Ủy ban nhân dân phường CV: 01 - Đương sự: 02 - Lưu: 04 | N T L T |