vanban.org

Bản án 15/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND tỉnh Quảng Trị Tuyên án 09/07/2021 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Nguyễn Hữu H được ly hôn chị Thái Thị H.

Về án phí: Anh Nguyễn Hữu H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí DSST đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 000808 ngày 29/3/2021 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Trị. Anh Nguyễn Hữu H đã nộp đủ tiền án phí ly hôn sơ thẩm. Quyền khán… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Hữu H - Thái Thị H"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Nguyễn Hữu H được ly hôn chị Thái Thị H.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH QUẢNG TRỊ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2021/HNGĐ-ST
Ngày 09/7/2021
“ V/v tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đinh Viết Nam;

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Hữu Quỵ;

Bà Phan Thị Gái.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Trung Thành – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị Thúy – Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 7 năm 2021, tại Hội trường Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 05/2021/TLST-HNGĐ ngày 31/3/2021 về việc “Tranh chấp ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 6 năm 2021 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Anh Nguyễn Hữu H, sinh năm 1986

Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Thôn Thịnh L, xã S, huyện C, tỉnh Hà Tỉnh.

Địa chỉ hiện nay: Hiện đang sinh sống và làm việc tại Đài Loan, vắng mặt.

Địa chỉ liên lạc tại Việt Nam: Bà Đặng Thị L; trú tại: Thôn Thịnh L, xã S, huyện C, tỉnh Hà Tỉnh.

2. Bị đơn: Chị Thái Thị H, sinh năm 1991

Địa chỉ: Thôn Trung S, xã S, huyện C, tỉnh Hà Tỉnh.

Địa chỉ nơi làm việc: Công ty xây dựng 384 – Bộ quốc phòng; số M, Quốc lộ N, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 08/02/2021, nguyên đơn anh Nguyễn Hữu H trình bày:

Ngày 16/11/2016, anh Nguyễn Hữu H và Chị Thái Thị H tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã S, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh. Sau khi kết hôn, vợ chồng sinh sống hòa thuận, hạnh phúc được gần một năm. Được một thời gian ngắn thì vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, cả hai sống ly thân từ tháng 10/2017 cho đến nay, không ai quan tâm ai. Đến tháng 5/2019 anh H đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan. Hiện nay, mâu thuẫn giữa hai vợ chồng ngày càng trầm trọng, kéo dài, cuộc sống chung không thể tiếp tục, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh Nguyễn Hữu H xin được ly hôn với chị Thái Thị H.

Về con chung: Không có.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản trình bày ý kiến ngày 06/4/2021, bị đơn chị Thái Thị H trình bày:

Chị H và anh Nguyễn Hữu H đến với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã S, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh. Sau khi kết hôn được một thời gian thì cả hai vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, anh H không còn quan tâm đến chị H. Hiện nay, chị H thấy tình cảm giữa chị với anh H không còn, nên việc anh Nguyễn Hữu H xin ly hôn thì chị H hoàn toàn đồng ý.

Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị:

Về tố tụng: Quá trình thụ lý giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa và các Hội thẩm nhân dân, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn và bị đơn vắng mặt nên không thực hiện quyền, nghĩa vụ theo Điều 70, Điều 71, Điều 72 BLTTDS; vụ án có yếu tố nước ngoài nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị.

Về nội dung:

Quan hệ hôn nhân giữa anh Nguyễn Hữu H với chị Thái Thị H là hợp pháp. Sau một thời gian thì tình cảm vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn không thể hàn gắn được, cả hai sống ly thân từ tháng 10/2017 cho đến nay, không ai quan tâm ai. Đến tháng 5/2019 anh H đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan. Hiện nay, mâu thuẫn giữa hai vợ chồng ngày càng trầm trọng, kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, đề nghị HĐXX áp dụng Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn xử cho anh Nguyễn Hữu H được ly hôn chị Thái Thị H.

Về con chung: Không có.

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

Về án phí: Anh H phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Đây là vụ án hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị theo quy định tại các Điều 28, 37, 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành phiên họp kiểm tra giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, nhưng do anh Nguyễn Hữu H có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt và không hòa giải, nên Tòa án không tiến hành hòa giải được. Tòa án đã tiến hành các thủ tục tống đạt các giấy tờ hợp lệ theo quy định của pháp luật. Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn anh Nguyễn Hữu H và bị đơn chị Thái Thị H đều có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, nên Tòa án tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Nguyễn Hữu H, Hội đồng xét xử thấy:

Quan hệ hôn nhân giữa anh Nguyễn Hữu H và chị Thái Thị H là hợp pháp, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã S, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh vào năm 2016. Sau khi kết hôn, vợ chồng sinh sống hòa thuận, hạnh phúc được gần một năm. Sau đó thì giữa hai vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, cả hai sống ly thân từ tháng 10/2017; Đến tháng 5/2019 anh H đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan, mỗi người sống một nơi, không ai quan tâm ai. Chị Thái Thị H cũng thừa nhận hiện nay không còn tình cảm gì với anh H, nên việc anh H xin ly hôn chị thì chị H hoàn toàn đồng ý. Vì vậy, có đủ căn cứ để khẳng định tình trạng hôn nhân giữa anh H và chị H đã mâu thuẩn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, xử cho anh Nguyễn Hữu H được ly hôn chị Thái Thị H là có cơ sở pháp luật.

. Về con chung: Không có.

. Về tài sản chung và nợ chung: Không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

. Về án phí: Nguyên đơn anh Nguyễn Hữu H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình; Khoản 1 Điều 227, Điều 228, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án;

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Nguyễn Hữu H được ly hôn chị Thái Thị H.

2. Về án phí: Anh Nguyễn Hữu H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí DSST đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 000808 ngày 29/3/2021 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Trị. Anh Nguyễn Hữu H đã nộp đủ tiền án phí ly hôn sơ thẩm.

3. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn anh Nguyễn Hữu H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn một tháng kể từ ngày nhận được bản án. Bị đơn chị Thái Thị H có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ