vanban.org

Bản án 15/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Phan Thị M H được ly hôn với anh Phạm Văn H.

Về con chung: Giao con chung tên Phạm Quốc Thái, sinh ngày 27/3/2009 và Phạm Thị Mỹ Tiên, sinh ngày 22/3/2013 cho chị H nuôi dưỡng. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chun… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "hon nhan gia dinh"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Phan Thị M H được ly hôn với anh Phạm Văn H.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LV
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2021/HNGĐ-ST.
Ngày: 26-02-2021.
“V/v Ly hôn và nuôi con khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LV, TỈNH ĐỒNG THÁP

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Hằng.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Vạn Thế;

2. Bà Chung Thị Thu Nguyệt.

Thư ký phiên toà: Ông Huỳnh Khánh Tâm – Thư ký Tòa án nhân dân huyện LV.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện LV tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Kương – Kiểm sát viên.

Vào ngày 26/02/2021, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện LV, tỉnh Đồng Tháp xét xử công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 410/2020/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 10 năm 2020 về việc ”Ly hôn và nuôi con khi ly hôn”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 14A/2021/QĐXXST-HNGĐ, ngày 15/01/2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số:15/2021/QĐST-HNGĐ ngày 02/02/2021 giữa:

Nguyên đơn: Chị Phan Thị M H, sinh năm 1983; địa chỉ cư trú: Số 329, Ấp An Bình, xã Định Yên, huyện LV, tỉnh Đồng Tháp; địa chỉ liên lạc: Số 16, ấp An Bình, xã Định Yên, huyện LV, tỉnh Đồng Tháp (Có mặt).

Bị đơn: Anh Phạm Văn H, sinh năm 1982; địa chỉ cư trú: Số 329, Ấp An Bình, xã Định Yên, huyện LV, tỉnh Đồng Tháp (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện; biên bản về việc kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và tại phiên tòa nguyên đơn chị Phan Thị M H trình bày: Năm 2007 chị Hoa và anh Hoàng cưới nhau và đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Định Yên, huyện LV, tỉnh Đồng Tháp. Sống chung hạnh phúc đến đầu tháng 02/2020 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh Hoàng ăn chơi, cờ bạc, lắc tài xỉu, không lo làm ăn, bỏ bê vợ con, không có trách nhiệm với gia đình, nhiều lần chị Hoa đã khuyên can nhưng anh Hoàng không thay đổi, chị Hoa và anh Hoàng đã ly thân từ tháng 02/2020 cho đến nay. Nay tình cảm không còn, đời sống hôn nhân không đạt được. Chị Hoa yêu cầu ly hôn với anh Phạm Văn H.

Về con chung: Quá trình chung sống có 02 con chung tên Phạm Quốc Thái, sinh ngày 27/3/2009 và Phạm Thị Mỹ Tiên, sinh ngày 22/3/2013 con chung hiện nay do chị Hoa nuôi dưỡng. Sau khi ly hôn chị Hoa yêu cầu nuôi dưỡng hai con chung, không yêu cầu anh Hoàng cấp dưỡng nuôi con.

kiến của Phạm Quốc Thái và Phạm Thị Mỹ Tiên, sau khi cha mẹ ly hôn Thái và Tiên muốn được sống với mẹ.

Về tài sản và nợ chung: Chị Hoa không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại văn bản ghi ý kiến ngày 02/11/2020 anh Hkhông đồng ý ly hôn với chị H. Trường hợp ly hôn thì anh H yêu cầu chia mỗi người một đứa con và chia tài sản chung gồm 01 công đất, 01 lượng vàng 9999, 01 dây hụi 1.000.000 đồng, 01 dây hụi 5.000.000 đồng và 01 dây hụi 2.000.000 đồng. Tòa án đã ra thông báo cho anh Hsửa đổi, bổ sung đơn yêu cầu khởi kiện chia tài sản chung. Đến nay anh Hkhông nộp đơn yêu cầu Tòa án giải quyết và vắng mặt không có lý do.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều đúng quy định của pháp luật.

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, người tham gia tố tụng thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.

Về đường lối giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Phan Thị M H.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thẩm quyền giải quyết:

Nguyên đơn chị Phan Thị M H khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Phạm Văn H, yêu cầu này phù hợp với quy định tại Điều 51 và Điều 56 luật Hôn nhân và gia đình. Bị đơn anh Phạm Văn Hoàng có địa chỉ tại huyện LV, tỉnh Đồng Tháp, nên căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện LV, tỉnh Đồng Tháp.

Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án anh Phạm Văn H đã được tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, nhưng anh Hvắng mặt không lý do. Căn cứ các Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh Phạm Văn Hoàng.

Về nội dung tranh chấp:

Xét yêu cầu ly hôn của chị Phan Thị M H được quy định tại các Điều 51, 53, 56 Luật Hôn nhân và gia đình. Quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh Hcó đăng kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 193 ngày 05/11/2007 do Ủy ban nhân dân xã Định Yên, huyện LV, tỉnh Đồng Tháp cấp nên là hôn nhân hợp pháp được quy định tại Điều 8, Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Căn cứ vào đơn khởi kiện và lời trình bày của chị H tại biên bản phiên họp về việc kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và tại phiên tòa nhận thấy: Trong thời gian chung sống vợ chồng giữa chị H và anh Hphát sinh nhiều mâu thuẫn không hòa giải được và mâu thuẫn ngày càng trầm trọng hơn, nguyên nhân do tính tình và quan điểm sống không hợp nhau, hiện nay vợ chồng đã sống xa nhau được một thời gian dài, không còn ai quan tâm đến ai nữa và mâu thuẫn đã trầm trọng không còn khả năng hàn gắn tình cảm vợ chồng, mục đích hôn nhân không đạt được. Anh Hcũng biết việc chị H khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh và anh Cũng có văn bản gởi cho Tòa án là không đồng ý ly hôn, nhưng sau đó anh Hoàng không đến tòa theo giấy triệu tập và cũng không muốn hàn gắn tình cản vợ chồng. Do đó chị H yêu cầu ly hôn với anh Hlà có cơ sở chấp nhận, phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Hoa.

Về nuôi con chung: Quá trình chung sống chị H và anh H có 02 con chung tên Phạm Quốc Thái, sinh ngày 27/3/2009 và Phạm Thị Mỹ Tiên, sinh ngày 22/3/2013 con chung hiện nay do chị Hoa nuôi dưỡng. Chị Hoa yêu cầu nuôi dưỡng hai con chung, không yêu cầu anh Hg cấp dưỡng nuôi con. kiến của Phạm Quốc Thái và Phạm Thị Mỹ Tiên, sau khi cha mẹ ly hôn Thái và Tiên muốn được sống với mẹ. Hiện nay chi Hoa cũng có việc làm ổn định, đủ khả năng nuôi hai con. Xét yêu cầu của chị H là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Giao con chung tên Phạm Quốc Thái, sinh ngày 27/3/2009 và Phạm Thị Mỹ Tiên, sinh ngày 22/3/2013 cho chị H nuôi dưỡng, chị Hoa không yêu cầu anh Hcấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản và nợ chung: Chị H không yêu cầu giải quyết, anh Hkhông có yêu cầu chia tài sản chung, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí: Theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/NQ- UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì chị H chịu toàn bộ tiền án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, Điều 56, Điều 81, khoản 3 Điều 82 và khoản 2 Điều 83 Luật hôn và nhân gia đình; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Phan Thị M H được ly hôn với anh Phạm Văn H.

2. Về con chung: Giao con chung tên Phạm Quốc Thái, sinh ngày 27/3/2009 và Phạm Thị Mỹ Tiên, sinh ngày 22/3/2013 cho chị H nuôi dưỡng.

Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung.

3. Án phí: Chị Phan Thị M H chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số BI/2019/0009685 ngày 15/10/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện LV, tỉnh Đồng Tháp (đã nộp xong).

Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc Bản án được niêm yết.

TM . HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ