vanban.org

Bản án 15/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban

thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "bản án hôn nhân Nguyễn Thị Diễm Thúy Hằng- Nguyễn Trí Thành"
  • Tòa quyết gì? Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀ BÌNH, TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 15/2021/HNGĐ-ST

Ngày: 29/03/2021

HUYỆN HOÀ BÌNH Độc lập - Tự do - Hạnh phúc V/v Tranh chấp ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀ BÌNH, TỈNH BẠC LIÊU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Mỹ Xuyên Các hội thẩm nhân dân: 1/- Ông Võ Tấn Phước 2/- Ông Nguyễn Văn Miên Thư ký phiên tòa: Ông Phan Văn Dư - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Ông Mai Thanh Vũ- Kiểm sát viên. Ngày 29 tháng 03 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hoà Bình, tỉnh Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 315/2020/TLST- HNGĐ ngày 04 tháng 11 năm 2020 về tranh chấp ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2021/QĐXX-ST ngày 19 tháng 02 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 10/2021/QĐST-HNGĐ ngày 12 tháng 03 năm 2021 giữa các đương sự: 1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Diễm Thúy H, sinh năm 1979 Địa chỉ: Khóm K, Phường Láng T, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu 2. Bị đơn: Anh Nguyễn Trí T, sinh năm 1975 Địa chỉ: Ấp Đ, xã Vĩnh M, huyện Hòa B, tỉnh Bạc Liêu (Chị H có đơn xin vắng mặt, anh T vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 27 tháng 10 năm 2020 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn là Chị Nguyễn Thị Diễm Thúy H trình bày: Chị và Anh Nguyễn Trí T xây dựng hôn nhân gia đình vào năm 2000, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán của địa phương, đến năm 2003 mới đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã P, huyện N, thành phố Hồ Chí Minh. Quá trình chung sống chị và anh T có 02 con chung tên là Nguyễn Tấn H, sinh ngày 20/10/2010, Nguyễn Chí D, sinh ngày 22/6/2003. Hiện con chung giữa chị và anh T là cháu H và cháu D đang sống cùng với chị H.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn giữa chị và anh T là do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên xung đột, cự cãi nhau dẫn đến cuộc sống vợ chồng không có hạnh phúc và đã sống ly thân cách nay khoảng 03 năm. Trong thời gian sống ly thân, chị H và anh T đã dùng nhiều biện pháp để hàn gắn mối quan hệ vợ chồng nhưng không thể hàn gắn được do không còn tình cảm với nhau. Nay, Chị Nguyễn Thị Diễm Thúy H yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với Anh Nguyễn Trí T, về con chung: yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục 02 (hai) con chung là các cháu Nguyễn Tấn H, sinh ngày 20/10/2010, Nguyễn Chí D, sinh ngày 22/6/2003, không yêu cầu anh T phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ngoài ra, chị không còn ý kiến trình bày gì thêm. Theo bị đơn là Anh Nguyễn Trí T trình bày: Anh thống nhất theo trình bày của chị H về quan hệ hôn nhân, con chung, tài sản chung, nợ chung là đúng. Nay anh đồng ý ly hôn với Chị Nguyễn Thị Diễm Thúy H, Về con chung: Đồng ý giao con chung là các cháu Nguyễn Tấn H, sinh ngày 20/10/2010, Nguyễn Chí D, sinh ngày 22/6/2003 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục, Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ngoài ra, anh không còn ý kiến trình bày gì thêm. Ý kiến của Viện kiểm sát: * Về tố tụng: Quá trình từ khi thụ lý đến khi xét xử vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng trình tự quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung đề xuất: & Q Fí F i F LÅ X L BÅ ộ X L Å X LÅ X luật tố tụng dân sự năm 2015, căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. 1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của Chị Nguyễn Thị Diễm Thúy H 2. Về con chung: Giao con chung là các cháu Nguyễn Tấn H, sinh ngày 20/10/2010, Nguyễn Chí D, sinh ngày 22/6/2003 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục. Anh T không phải cấp dưỡng nuôi con do chị H không yêu cầu. Anh T được quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. 3. Tài sản chung, nợ chung: Không đặt ra xem xét. 4. Án phí: Chị Nguyễn Thị Diễm Thúy H phải nộp án phí sơ thẩm là 300.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn là Chị Nguyễn Thị Diễm Thúy H khởi kiện yêu cầu ly hôn, tranh chấp về nuôi con với Anh Nguyễn Trí T nên đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn là anh Nguyễn Trí T có đăng ký thường trú và hiện đang sinh sống tại ấp Đ, xã Vĩnh M, huyện Hòa B, tỉnh Bạc Liêu nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự. Về thủ tục tố tụng: Tại phiên toà, chị Nguyễn Thị Diễm Thúy H có đơn xin vắng mặt, Anh Nguyễn Trí T vắng mặt. Toà án nhân dân huyện Hoà Bình, tỉnh Bạc Liêu đã tiến hành tống đạt hợp lệ các thủ tục tố tụng dân sự cho anh Tđể tham gia phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án theo yêu cầu ly hôn, tranh chấp về nuôi con giữa chị H và anh T theo quy định, nhưng anh Tvẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, căn cứ theo quy định tại khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với chị H và anh T. [2] Về hôn nhân: Chị H và anh T xây dựng hôn nhân gia đình vào năm 2000, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán của địa phương, đến năm 2003 mới đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã P, huyện N, thành phố Hồ Chí Minh và đã được Uỷ ban nhân dân xã P, huyện N, thành phố Hồ Chí Minh cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 31/12/2003. Vì thế, hôn nhân giữa chị H và anh T là hôn nhân hợp pháp và được pháp luật bảo vệ. Chị H cho rằng trong quá trình chung sống với anh T do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên xung đột, cự cãi nhau dẫn đến cuộc sống vợ chồng không có hạnh phúc và đã sống ly thân cách nay khoảng 03 năm, nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Thành. Hội đồng xét xử xét thấy, quan hệ hôn nhân muốn tồn tại bền vững thì phải dựa trên cơ sở tự nguyện; vợ chồng phải biết thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau, cùng nhau xây dựng gia đình phát triển. Tuy nhiên, trong quá trình chung sống chị H và anh Tkhông biết tôn trọng nhau để cùng nhau xây dựng gia đình hạnh phúc mà thường xuyên cự cãi nhau, dẫn đến hiện tại chị H và anh T đã sống ly thân cách nay khoảng 03 năm. Từ khi sống ly thân đến nay, chị H và anh T đã dùng nhiều biện pháp để hàn gắn mối quan hệ vợ chồng nhưng không thể hàn gắn được do không còn tình cảm với nhau. Trong suốt quá trình xét xử vụ án, chị H vẫn giữ nguyên yêu cầu được ly hôn với anh T, không có nguyện vọng hàn gắn mối quan hệ hôn nhân. Đồng thời, anh T cũng đồng ý ly hôn với chị H. Điều này cho thấy hôn nhân giữa chị H và anh T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu ly hôn giữa Chị Nguyễn Thị Diễm Thúy H đối với Anh Nguyễn Trí T. [3] Về con chung: Trong quá trình chung sống, chị H và anh T có 02 (hai) con chung tên là Nguyễn Tấn H, sinh ngày 20/10/2010, Nguyễn Chí D, sinh ngày 22/6/2003. Hiện cả hai cháu H, D đang sống cùng với chị H, chị H có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cả hai cháu H, D.

Hội đồng xét xử xét thấy, theo khoản 2, khoản 3 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con. 3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con”. Xét thấy, cháu H và cháu D hiện đang sống ổn định cùng với chị H và tại thời điểm giải quyết cháu H và cháu D đều đủ 07 tuổi trở lên nên cần phải xem xét nguyện vọng của cháu H và cháu D để giao cháu H và cháu D cho một bên trực tiếp nuôi dưỡng. Tại bản tự khai của cháu H, cháu D (BL 28-29), cháu H và cháu D đều có nguyện vọng được sống cùng với chị H. Anh T cũng đồng ý giao cháu H và cháu D cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi của cháu H và cháu D, đồng thời, đảm bảo sự phát triển bình thường và không làm xáo trộn môi trường sống của các cháu ảnh hưởng đến sự phát triển về tâm sinh lý của cháu H và cháu D, nên cần tiếp tục giao cháu H và cháu D cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp. Anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. [4] Về cấp dưỡng: Chị H không yêu cầu anh Tphải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. [5] Về tài sản chung, nợ chung: Chị H và anh T thống nhất xác định chị H và anh T không có tài sản chung và không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết, do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. [6] Án phí sơ thẩm hôn nhân và gia đình, chị H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). [7] Từ những nhận định trên, xét đề nghị của Kiểm sát viên - đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu là có căn cứ nên được chấp nhận. Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1,3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 56, các Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. * Tuyên xử:

1/- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của Chị Nguyễn Thị Diễm Thúy H đối với Anh Nguyễn Trí T, xử cho ly hôn giữa Chị Nguyễn Thị Diễm Thúy H và Anh Nguyễn Trí T. 2/- Về nuôi con chung: Giao con chung là các cháu Nguyễn Tấn H, sinh ngày 20/10/2010, Nguyễn Chí D, sinh ngày 22/6/2003 cho Chị Nguyễn Thị Diễm Thúy H trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Nguyễn Trí T không phải cấp dưỡng nuôi con do chị H không yêu cầu. Anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. 3/- Về án phí sơ thẩm hôn nhân và gia đình: Chị Nguyễn Thị Diễm Thúy H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Chị H đã nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0010313 ngày 04 tháng 11 năm 2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hoà Bình được chuyển thu. Án xử sơ thẩm công khai, nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ. TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ