- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Quan Văn Đ xin ly hôn Hoàng Thị T"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về “Ly hôn” của anh Quan Văn Đ.
- Căn cứ chính? Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 143 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHIÊM HOÁ TỈNH TUYÊN QUANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 15/2021/HNGĐ-ST Ngày 02/4/2021 V/v: Ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
--------------------
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHIÊM HOÁ, TỈNH TUYÊN QUANG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lâm Hạnh Quỳnh.
- Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Xuân Tiếu.
2. Bà Tưởng Thị Thu.
- Thư ký phiên toà: Ông Dương Văn Tiến, Thư ký TAND huyện Chiêm Hoá.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hoá tham gia phiên tòa: Bà Chu Thị Hoa - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 4 năm 2021 tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Chiêm Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 364/2020/TLST - HNGĐ ngày 09 tháng 11 năm 2020 về "Ly hôn ". Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 3 năm 2021; Quyết định hoãn phiên tòa số: 12/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 3 năm 2021 giữa các đương sự.
* Nguyên đơn: Anh Quan Văn Đ, sinh năm 1976, địa chỉ: Thôn OC, xã TM, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang, (vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
* Bị đơn: Chị Hoàng Thị T, sinh năm 1978, địa chỉ: Thôn OC, xã TM, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang, (vắng mặt, không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 23/9/2020, nội dung bản tự khai, biên bản ghi lời khai lập ngày 03/12/2020 và tại các phiên họp hòa giải ngày 21/12/2020 và ngày 25/01/2021, đơn đề nghị xét xử vắng mặt nguyên đơn anh Quan Văn Đ trình bày:
Anh Quan Văn Đ và chị Hoàng Thị T qua tự nguyện, tự do tìm hiểu đã về chung sống với nhau từ năm 1996, đến năm 2001 đăng ký kết hôn tại UBND xã TM, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang theo giấy chứng nhận kết hôn số 124 ngày 19/9/2001, sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại Thôn OC, xã TM, huyện Chiêm Hóa, anh Đ và chị T được gia đình tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán tại địa phương. Cuộc sống chung hòa thuận, hạnh phúc đến năm 2006 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng không cùng quan điểm sống, chị T bỏ đi làm ăn xa ít có thời gian quan tâm chăm sóc gia đình dẫn đến tính cảm vợ chồng không còn, hiện anh chị đã ly thân. Anh Quan Văn Đ xác định tình cảm vợ chồng thực sự đã hết, yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với chị Hoàng Thị T.
- Về con chung: Có 01 con chung là Quan Văn Đ, sinh ngày 09/02/1998, hiện nay con đã trên 18 tuổi có đủ khả năng nhận thức và lao động bình thường nên không đề nghị Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không có.
Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành các thủ tục tố tụng, triệu tập chị Hoàng Thị T đến Tòa án để giải quyết việc anh Quan Văn Đ yêu cầu ly hôn nhưng chị T đều không có mặt. Kết quả xác minh tại địa phương xác định hiện chị T đi làm ăn xa không biết địa chỉ cụ thể, một năm chỉ về một đến hai lần. Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa đã tiến hành xác minh và theo lời khai của bà Quân Thị N (trưởng thôn OC) cung cấp thì chị T đi làm ăn xa nhưng vẫn đăng ký hộ khẩu tại Thôn OC, xã TM, huyện Chiêm Hóa, bà N xác định hiện nay bà không biết địa chỉ và nơi làm việc cụ thể của chị T. Bà có nhận được văn bản của Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa và cam kết thông báo cho chị T biết về việc anh Đ có đơn xin ly hôn.
Tại phiên tòa, nguyên đơn anh Quan Văn Đ có đơn đề nghị xét xử vắng mặt gửi Tòa án và giữ nguyên ý kiến trình bày trong quá trình giải quyết, không thay đổi hay bổ sung gì thêm. Bị đơn chị Hoàng Thị T vắng mặt không có lý do (Tòa án đã tiến hành tống đạt các thủ tục tố tụng theo quy định), chị T không có ý kiến trình bày tại Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án đều đảm bảo đúng quy định, bị đơn thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ quy định tại các Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Về việc giải quyết vụ án, đại diện Viện kiểm sát đề nghị: Áp dụng Điều 51, 53, khoản 1 Điều 56, 57 Luật hôn nhân và gia đình; Khoản 1 Điều 28, các Điều 143, 144, 147, 227, 228, 238, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Quan Văn Đ; Xử cho anh Quan Văn Đ được ly hôn với chị Hoàng Thị T.
- Về con chung: Anh Đ và chị T có 01 con chung là Quan Văn Đ, sinh ngày 09/02/1998, hiện nay con đã trên 18 tuổi có đủ khả năng nhận thức và lao động bình thường nên không đề nghị Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung, đất đai, công nợ chung anh Đ không đề nghị Tòa án giải quyết.
- Về án phí và quyền kháng cáo: Anh Quan Văn Đ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm (trong vụ án ly hôn); Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về pháp luật tố tụng.
Anh Quan Văn Đ khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang giải quyết cho anh ly hôn với chị Hoàng Thị T. Chị Hoàng Thị T đăng ký hộ khẩu thường trú tại Thôn OC, xã TM, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang. Căn cứ theo khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình về “Ly hôn” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa.
Theo cung cấp của Công an xã TM, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang thì chị Hoàng Thị T có hộ khẩu thường trú tại Thôn OC, xã TM, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang. Chị T đi làm ăn xa nhưng không thông báo địa chỉ mới nên hiện tại không rõ chị T đang ở đâu, làm gì. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ đối với chị T đến Tòa án để làm việc nhưng chị T vắng mặt không có lý do, chị T đã được thông báo nhưng vẫn không về, đây được xem là trường hợp người bị kiện cố tình che giấu địa chỉ, trốn tránh nghĩa vụ nên Tòa án vẫn giải quyết vụ án theo thủ tục chung.
`[2] Về việc xem xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Về quan hệ hôn nhân: Anh Quan Văn Đ kết hôn với chị Hoàng Thị T trên cơ sở tự do tìm hiểu tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Anh Đ và chị T chung sống hòa thuận hạnh phúc đến năm 2006 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do giữa anh Đ và chị T không quan tâm đến cuộc sống chung, bất Đ quan điểm sống nên phát sinh mâu thuẫn, hiện anh Đ và chị T đã sống ly thân, do vậy giữa anh Đ và chị T không thể tồn tại một gia đình hạnh phúc, tiến bộ. Vì vậy, cần chấp nhận yêu cầu của anh Quan Văn Đ, xử cho anh Đ được ly hôn với chị T.
Về con chung: Quá trình chung sống anh Đ và chị T có 01 con chung là Quan Văn Đ, sinh ngày 09/02/1998, hiện nay con đã trên 18 tuổi có đủ khả năng nhận thức và lao động bình thường nên không đề nghị Tòa án giải quyết.
Về tài sản, đất đai, công nợ chung: Anh Quan Văn Đ không đề nghị Tòa án giải quyết. Do vậy, HĐXX không xem xét.
Về án phí và quyền kháng cáo: Anh Quan Văn Đ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm (trong vụ án ly hôn); Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 143, 144, 147, 227, 228, 235, 238, 266, 271 và 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các Điều 51, 53, 56, 57 của Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về “Ly hôn” của anh Quan Văn Đ.
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Quan Văn Đ được ly hôn với chị Hoàng Thị T.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm (trong vụ án ly hôn): Anh Quan Văn Đ phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0002934 ngày 09 tháng 11 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chiêm Hóa. Chị Hoàng Thị T không phảinộp án phí.
3. Về quyền kháng cáo: Anh Quan Văn Đ và chị Hoàng Thị T vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết công khai./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tuyên Quang; - VKSND huyện Chiêm Hóa; - VKSND tỉnh Tuyên Quang; - Chi cục THADS huyện Chiêm Hóa; - UBND xã TM (Nơi ĐKKH); - Các đương sự; - Lưu HSVA, VP. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lâm Hạnh Quỳnh |