vanban.org

Bản án 15/2021/DS-PT — Tranh chấp hợp đồng bảo hiểm

TAND tỉnh Quảng Bình Tuyên án 14/04/2021 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 14/04/2021 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm b, g khoản 1 Điều 40, Điều 308, khoản 2 Điều 309 Bô ̣ luâ ̣t Tố tu ̣ng D ân sự; các Điều 12, 13, 14, 15, 29 Luâ ̣t kinh doanh bảo hiểm ; khoản 1 Điều 147, khoản 1, khoản 2 Điều 357 Bô ̣ luâ ̣t Dân sự; khoản 1 Đ…

́ tuyên xử : Chấp nhâ ̣n mô ̣t phần kháng cáo của N guyên đơn ông Nguyễn Văn C , buô ̣c Bị đơn là Tổng Công ty Bảo hiểm B phải bồi thường cho ông Nguyễn Văn C số tiền 4.349.583.000 đồng, do xảy ra vu ̣ tai na ̣n chim tàu cá QB Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng bảo hiểm — án dân sự — "Nguyễn Văn C"
  • Tòa quyết gì? Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm b, g khoản 1 Điều 40, Điều 308, khoản 2 Điều 309 Bô ̣ luâ ̣t Tố tu ̣ng D ân sự; các Điều 12, 13, 14, 15, 29 Luâ ̣t kinh doanh bảo hiểm ; khoản 1 Điều 147, khoản 1, khoản 2 Điều 357 Bô ̣ luâ ̣t Dân sự; khoản 1 Đ…
  • Căn cứ chính? Điều 13 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 29 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH QUẢNG BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2021/DS-PT
Ngày: 14 - 4 – 2021
V/v tranh chấp hợp đồng bảo hiểm

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Quảng Lực

Các Thẩm phán:

Ông Trần Đứ c Long

Bà Từ Thị Hải Dương

- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Thanh Thuý – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Quảng Bình.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình: Bà Nguyễn Thị Hường

- Kiểm sát viên.

Ngày 14/4/2021, tại Toà án nhân dân tỉnh Quảng Bình xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 02/2021/TLPT- DS ngày 06/01/2021 về việc tranh chấp hợp đồng bảo hiểm do Bản án dân sự sơ thẩm số 29/2020/DS – ST ngày 26 tháng 11 năm 2020 của Toà án nhân dân thành phố Đồng Hớ i bị kháng cáo, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 466/2021/QĐ-PT ngày 26/3/2021, giữa các đương sự:

1.Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn C; địa chỉ thườ ng trú : thôn T, xã Đ, huyê ̣n B, tỉnh Quảng Bình; có mă ̣t;

Ngườ i bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn:

+Ông Lê Minh T – Luâ ̣t sư Văn phòng luâ ̣t sư H thuô ̣c Đoàn Luâ ̣t sư tinh̉ Quảng Bình; địa chỉ: số 72 đườ ng T, phườ ng Đ, thành phố Đ , tỉnh Quảng Bình ; có mă ̣t;

+Ông Nguyễn Hữu L – Luật sư Văn phòng luâ ̣t sư M , thuô ̣c Đoàn Luâ ̣t sư thành phố Đà Nẵng; địa chỉ: số 276 đườ ng C, quâ ̣n T, thành phố Đà Nẵng; có mặt;

2.Bị đơn: Tổng Công ty Bảo hiểm B; địa chỉ: số 104, phố T, phườ ng C, quâ ̣n H, thành phố Hà Nội;

Người đại diện theo pháp luâ ̣t: Ông Nguyễn Xuân V – Tổng Giám đốc;

Ngườ i đa ̣i diê ̣n theo uỷ quyền theo Giấy uỷ quyền số 373/UQ-BHBV, có hiệu lực ngày 25/01/2021:

+Ngườ i thứ nhất: Ông Dương Anh D – Phó Giám đốc phụ trách Công ty B; có mă ̣t;

+Ngườ i thứ hai: Ông Nguyễn Đinh H – Phó Phòng bảo hiểm số 2 – Công ty B;

̀

có mặt;

+Ngườ i thứ ba: Ông Phan D1 – Chuyên viên Ban Pháp chế và Kiểm tra nô ̣i bô ̣ – Tổng Công ty Bảo hiểm B; có mặt;

3.Ngườ i có quyền lợi và nghia vu ̣̃

liên quan:

+Công ty B; đi ̣a chỉ cư trú : đườ ng Pha ̣m Văn Đ , phườ ng N, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình;

Ngườ i đa ̣i diê ̣n theo pháp luật: Ông Dương Anh D – Phó Giám đốc phụ trá ch; có mặt;

+Bà Trần Thi ̣ H1; đi ̣a chi thưở

̀ ng trú: Thôn T, xã Đ, huyê ̣n B, tỉnh Quảng Bình; có mặt;

4.Ngườ i làm chứ ng:

+Ông Võ Văn S; đi ̣a chi: Thôn Đ, xã Đ, huyê ̣̉

n B, tỉnh Quảng Bình; có mặt;

+Ông Nguyễn Xuân Đ ; đi ̣a chỉ : Số 266 đườ ng L , thành phố Đ , tỉnh Quảng Bình; vắng mă ̣t;

+Ông Nguyễn Quang T ; đi ̣a chỉ: Số 266 đườ ng L , thành phố Đ , tỉnh Quảng Bình; có mặt;

+Ông Trần Ngo ̣c Y, đi ̣a chi: Số 266 đưở

̀ ng L, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình; có mă ̣t;

+Ông Nguyễn Đinh H; đi ̣a chi: Đường Phạm V, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình;̉

̀ có mặt;

+Ông Mai Quốc T 2; đi ̣a chỉ: Đường Phạm Văn Đ, thành phố Đ , tỉnh Quảng Bình; có mặt;

+Ông Mai Duy N; đi ̣a chi: Đường Phạm Văn Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình;̉ có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khở i kiê ̣n và các ý kiến trinh bày trong quá trinh giải quyết vu ̣ án ,

̀

̀ quan điểm của Nguyên đơn ông Nguyễn Văn C như sau:

Ngày 20/6/2019, Công ty B đa cẫ ́p Giấy chứ ng nhâ ̣n bảo hi

ểm tàu cá số 3019151 mang số hiê ̣u QB -92246-TS, thờ i ha ̣n bảo hiểm từ n gày 20/6/2019 đến hết ngày 19/6/2020, kèm theo Hoá đơn GTGT thu phí bảo hiểm số 0001972 do Công ty B phát hành ngà y 26/6/2019 vớ i số tiền là 67.650.000 đồng cho chủ tàu cá QB -92246-TS là ông Nguyễn Văn C , sau khi hai bên ký Hợp đồng bảo hiểm thân tàu cá và thuyền viên. Về pháp lý thi ông C đa thự̃

c hiê ̣n đầy đủ nghia vu ̣̃

và trách nhiê ̣m của

̀ ngườ i tham gia bảo hiểm nên Công ty B mớ i có căn cứ để cấp Hoá đơn giá tri ̣ gia tăng và kèm theo là Giấy chứ ng nhâ ̣n Bảo hiểm tàu cá theo quy đi ̣nh của Luâ ̣t Bảo Hiểm.

Trong lúc đang hoa ̣t đô ̣ng đánh bắt cá ngoài khơi thi gă ̣p na ̣n và bi ̣ chim vào lúc

̀

̀ 15 giờ ngày 26/8/2019, tất cả thuyền viên đa đượ̃

c tàu cá QB

-02689-TS của ông Nguyễn Văn H3 cứ u hô ̣ vào bờ an toàn.

Ngày 29 tháng 8 năm 2019, ông C đa hợ̃ p đồng vớ i ông Nguyễn Văn B ở quâ ̣n S, thành phố Đà Nẵng để trục vớt tàu theo chỉ đạo của Công ty B. Cùng ngày ông Nguyễn Xuân Đ và ông Nguyễn Quang T là nhân viên của Công ty B đa chuyển sỗ

́ tiền 150.000.000 đồng bằng Uỷ nhiê ̣m chi ta ̣i Vietcombank cho ông Nguyễn Văn B để thực hiê ̣n hợp đồng tru ̣c vớ t. Vì thời tiết quá xấu nên viê ̣c tru ̣c vớ t bất thành.

Ngày 08/10/2019, Công ty B có Công văn số 343/BVQB-GĐBT về viê ̣c g iải quyết tổn thất thân tàu cá QB -92246-TS bi ̣ chim ngày 26/8/2019 tại vùng biển Đà

̀

Nẵng. Nô ̣i dung C ông văn cho rằng t ổn thất chìm tàu QB -92246-TS xảy ra ngày 26/8/2019 không thuô ̣c trách nhiê ̣m bồi thườ ng của Công ty B.

Không đồng tinh vớ i cách giải quyết của Công ty B nên ông C đa cõ ́ đơn kêu

̀ cứ u đến cu ̣c Quản lý giám sát bồi thườ ng Bô ̣ Tài chinh . Ngày 17/10/2019, Cục Quản

́ lý giám sát Bộ Tài chính đa cõ ́ Công văn số 884/QLBT-PNT gử i Tổng Công ty Bảo hiểm B yêu cầu Tổng Công ty Bảo hiểm B báo cáo kết quả giải quyết vụ việc trên trướ c ngày 24/10/2019. Ngày 24/10/2019, Tổng Công ty Bảo hiểm B có Công văn số 6386/BHBV-GĐBTHH phúc đáp nội dung cho rằng ông C không đưa ra được bất cứ giấy tờ chứ ng minh nào liên quan đến viê ̣c nô ̣p phi.

́

Ngày 07/11/2019, Công ty B đa cõ ́ Công văn số 393/BVQB-GĐBT, nô ̣i dung cho rằng viê ̣c Công ty B xuất hoá đơn giá tri ̣ gia tăng số 0001927 ngày 20/6/2019 cho ông Nguyễn Văn C là đúng theo quy định của Nhà nước , nhưng khách hàng Nguyễn Văn C chưa thanh toán phi bảo hiểm cho Công ty B theo số tiền ghi trên hoá đơn nó i

́ trên. Viê ̣c xuất hoá đơn là để ha ̣ch toán doanh thu phát sinh và ta ̣o điều kiê ̣n cho khách hàng nợ phí bảo hiểm không quá

30 ngày, do đó vụ tổn thất chim tàu

̀ QB92246TS xảy ra ngày 26/8/2019 không thuô ̣c trách nhiê ̣m bồi thườ ng bảo hiểm.

Công ty B cho rằng viê ̣c cấp hoá đơn GTGT và theo đó là giấy chứ ng nhâ ̣n

Bảo hiểm tàu cá , nhưng chưa thu phi bảo hiểm nhằm ta ̣o điều kiê ̣n cho khách hàng ,

́

thế nhưng kể từ ngày cấp hoá đơn GTGT 20/6/2019 cho đến khi tàu bị nạn thì phía Công ty B chưa mô ̣t lần thông báo hoă ̣c điê ̣n thoa ̣i cho chủ tàu về khoản phi chưa

́ nô ̣p. Mãi cho đến khi ông C có thông báo sự cố tàu bị chìm thì cán bộ của Công ty B mớ i điê ̣n thoa ̣i cho ông Võ Văn S cùng với vợ ông C là bà Trần Thi ̣ H 1 đến Ngân hàng để chuyển tiền cho Công ty B. Đó là điều bất thường dẫn đến Công ty B từ chối bồi thườ ng thiê ̣t ha ̣i cho tàu cá QB-92246-TS.

Viê ̣c đóng Bảo hiểm của ông C đúng theo quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t, nên đa đượ̃

c UBND tinh Quảng Bình hỗ trợ̉

ta ̣i Quyết đi ̣nh số 502/QĐ-UBND ngày 26/02/2020 vớ i số tiền để mua bảo hiểm là 31.200.000 đồng. Do đó , đề nghị Toà án nhân dân thành phố Đồng Hới xem xét đánh giá khách quan các chứng cứ mà ông C đa cung̃ cấp để buô ̣c Công ty B có trách nhiệm bồi thườ ng thiê ̣t ha ̣i cho ông C theo Giấy chứ ng nhâ ̣n bảo hiểm tàu cá vớ i số tiền là 7.800.000.000 đồng.

Tại phiên toà sơ thẩm, ông C thay đổi yêu cầu , theo đó yêu cầu số tiền được nhâ ̣n là 6.710.000.000 đồng, bao gồm 6.000.000.000 đồng là số tiền mà Tổng Công ty Bảo hiểm B phải trả theo Hợp đồng bảo hiểm và 710.000.000 đồng tiền lai tữ ̀ ngày 26/8/2019 đến ngày 26/11/2020.

-Ngườ i đa ̣i diê ̣n the o uỷ quyền , ông Dương Anh D Phó Giám đốc phụ trách Công ty B có ý kiến như sau:

Tàu cá số hiê ̣u QB-92246-TS tham gia bảo hiểm ta ̣i Công ty B theo điều kiê ̣n A – Quy tắc bảo hiểm tàu cá của Bảo hiểm B (QTTC/BV-2016), số đơn bảo hiểm 3019151 cấp ngày 20/06/2019, thờ i ha ̣n bảo hiểm từ ngày 20/06/2019 đến ngày 19/06/2020, hạn nộp phí theo một kỳ duy nhất ngày 19/07/2019. Ngày 26/08/2019, tàu QB-92246-TS do chủ tàu Nguyễn Văn C làm thuyền trưở ng trên đườ ng đi khai thác hải sản thì xảy ra tai nạn chìm đắm tại vị t

rí có toạ độ (16o23’N – 108o21’E) thuô ̣c vùng biển Đà Nẵng.

Căn cứ vào x ác nhận chi phí và Uỷ nhiệm chi t hánh toán số No 1 ngày 27/08/2019 của Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam và các hồ sơ liên quan , xác nhâ ̣n chủ tàu QB-92246-TS đa nô ̣̃ p phi bảo hiểm vào ngày 27/08/2019, ngay sau khi

́

xảy ra tổn thất chim tàu (26/08/2019) là vi phạm điều khoản thanh toán phi quy đi ̣nh

̀

́ trên Giấy chứ ng nhâ ̣n bảo hiểm số 3019151 và Hợp đồng bảo hiểm.

Mục 2, Điều 13 Quy tắc bảo hiểm tàu cá QTTC /BV-2016 quy đi ̣nh: “ Hiê ̣u lực của Giấy chứng nhận bảo hiểm: Trong mọi trườ ng hợp mặc dù Bảo Viê ̣t đã chấp nhận bảo hiểm và đã cấp giấy chứng nhận bảo hiểm hoặc giấy sửa đổi bổ sung (nếu có ) cho Ngườ i được bảo hiểm , hiê ̣u lực bảo hiểm của tà u sẽ tự động chấm dứ t ngay sau khi phá t sinh mộ t trong những trườ ng hợp sau :…a). Ngườ i được bảo hiểm không thanh toá n phi bảo hiểm đầy đủ và đú ng hạn theo quy đi ̣nh tại điểm 2 Điều 17 của

́ Quy tắ c nà y (trừ khi có thoả thuận khá c bằ ng văn bản)”.

Hợp đồng bảo hiể m số QBI.D6.TC.19.HD3019151 ký kết giữa chủ tàu Nguyễn Văn C và Công ty B có quy định rõ “Bên B có trá ch nhiê ̣m thanh toá n phi bảo hiểm

́ theo cá c kỳ và thờ i hạn được quy đi ̣nh trong Hợp đồng /Thông bá o thu phi . Trườ ng

́ hợp bên B không đó ng đủ phi bảo hiểm theo thờ i hạn thanh toá n phi bảo hiểm , Hợp

́

́ đồng bảo hiểm sẽ tự động chấm dứ t hiê ̣u lực sau khi hết thờ i hạn thanh toá n phi bảo

́ hiểm của kỳ đến hạn thanh toá n và sau đó cũng sẽ tự động được khôi phục hiê ̣u lực ngay sau khi bên B thanh toá n khoản phi chưa nộp kể trên, nhưng không phá t sinh bất

́

cứ trá ch nhiê ̣m nà o của bên A đối vớ i tổn thất (có thể) đã xảy ra đối vớ i đối tượng bảo hiểm vào khoảng thời gian từ khi hợp đồng bảo hiểm chấm dứ t hiê ̣u lực do chậm thanh toá n phi cho đến ngà y bên B thanh toá n đầy đủ phi bảo hiểm của kỳ đó ”.

́

́

Do đó , tổn thất chim tàu QB -92246-TS ngày 26/08/2019 không thuô ̣c trách

̀ nhiê ̣m bồi thườ ng bảo hiểm theo giấy chứ ng nhâ ̣n bảo hiểm số 3019151 cấp ngày 20 tháng 06 năm 2019.

Ý kiến của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan

- Công ty B: Công ty B không chấp nhâ ̣n ý kiến của Nguyên đơn đưa ra, vì sau khi tàu chìm phía nguyên đ ơn mớ i nô ̣p phi bảo hiểm. Về ý kiến ông C cho rằng ông Nguyễn Xuân Đ và ông Nguyễn

́ Quang T bỏ số tiền 150 triê ̣u đồng cho ông Bảy để tru ̣c vớ t tàu , thì viê ̣c này Công ty B không biết và cũng không xuất tiền cho viê ̣c trục vớt tàu.

Ý kiến của người làm chứng ông Nguyễn Xuân Đ : Năm 2019, ông Đ bán bảo hiểm cho ông C, thủ tục hợp đồng làm theo quy trình của Tổng Công ty Bảo hiểm B . Sau khi tàu bị tai nạn, ông Đ đa điê ̣̃

n cho ông S báo cho chủ tàu nộp phí, sau đó bà H1 (vợ ông C) đa nô ̣̃ p tiề n vào tài khoản của Công ty B. Sau khi tàu gă ̣p tai na ̣n ta ̣i Đà Nẵng, chủ tàu báo với Công ty B, Lãnh đạo Công ty đa ký giẫ

́y giớ i thiê ̣u cho ông Đ và ông T1 (là lái xe), ông H1, ông N vào giúp để tru ̣c vớ t tàu, nhưng vi bao to, gió lớñ

̀ nên không tru ̣c vớ t được . Sau đó ông Đ chuyển công viê ̣c , nên không biết gi thêm .

̀ Theo ông Đ tàu chưa nộp bảo hiểm , nhưng Công ty B thiếu sự đôn đốc thu phi , nên

́ hai bên có thể thương lượng.

Ý kiến của người làm chứng ông Nguyễn Quang T: Năm 2019, ông T có nhận thông tin ông C mua bảo hiểm và giớ i thiê ̣u cho phòng kinh doanh. Sau khi tàu tai nạn, ông C đa bã ́o vớ i Bảo hiểm, Công ty B đa cữ ̉ cán bô ̣ đi giám đ ịnh, nhưng vi ảnh

̀ hưở ng bao nên không tru ̣̃

c vớ t được tàu. Căn cứ th eo Điều 8.1 và Điều 13 của Hợp đồng thi Bảo hiểm phải bồi thườ ng cho ông C.

̀

Ý kiến của ngườ i làm chứ ng – các ông Nguyễn Đinh H 1, Mai Duy N , Mai

̀ Quốc T1: Ngày 26/8/2019, sau khi nhâ ̣n được thông tin về tàu cá của ông C bị chìm, Lãnh đạo Công ty đã cử các ông vào Đà Nẵng làm việc với T rạm kiểm s oát biên phòng Mân Quang thuộc Bộ chỉ huy biên phòng Đà Nẵng để nắm bắt thông tin ban đầu về v ụ việc, trên xe có ông N cùng đi. Sau khi vào làm viê ̣c ta ̣i Đồn biên Phòng , xác định tàu cá bị chìm hồi 15h ngày 26/8/2019, các ông về la ̣i Công ty báo cáo sự viê ̣c trên.

Bản án số 29/2020/DS-ST ngày 26/11/2020 của Toà án nhân dân thành phố Đồng Hới đã quyết định:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 40 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 385, 386, 398, 401 của Bô ̣ luâ ̣t dân sự 2015; các Điều 12, 13, 15, 18 của Luâ ̣t Kinh doanh Bảo hiểm, xử:

1.Không chấp nhâ ̣n yêu cầu khở i kiê ̣n của nguyên đơn ông Nguyễn Văn C về viê ̣c yêu cầu Tổng Công ty B phải trả số tiền bảo hiểm Tàu cá QB

-92246-TS là 6.710.000.000 đồng (sáu tỷ bảy trăm mười triệu đồng ), trong đó tiề n yêu cầu bồi thườ ng thiê ̣t ha ̣i do tàu bi ̣ chim 6.000.000.000 đồng, tiền lai 710.000.000 đỗ

̀ng.

̀

2.Buô ̣c Tổng Công ty B trả lại số tiền nộp bả o hiểm 67.650.000 đồng cho ông Nguyễn Văn C.

3.Về án phi dân sự sơ thẩm , căn cứ Điều 147 Bô ̣ luâ ̣t Tố tu ̣ng Dân sự, khoản 1

́ Điều 13, Điều 26 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy đi ̣nh về án phí, lê ̣ phi Toà án, xử :

́

-Buô ̣c ông Nguyễn Văn C phải chịu án phí 57.355.000 đồng, nhưng được khấu trừ số tiền ta ̣m ứ ng án phi ông đa nô ̣̃ p 28.950.000 đồng ta ̣i B iên lai thu ta ̣m ứ ng án

́ phí, lê ̣ phi Toà án số 0005400 ngày 12/02/2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành

́ phố Đồng Hớ i. Số tiền còn t hiếu 28.405.000 đồng buô ̣c ông C phải nộp để sung quỹ Nhà nước.

-Tổng Công ty Bảo hiểm B không phải chi ̣u án phi.

́

Bản án sơ thẩm còn tuyên việc chịu lãi đối với số tiền chậm thi hành án ; quyền thoả thuận, yêu cầu, tự nguyê ̣n hoă ̣c bi ̣ cưỡng chế thi hành án và vấn đề thờ i hiê ̣u thi hành án, quyền kháng cáo của các đương sự theo quy đi ̣nh pháp luâ ̣t.

Trong ha ̣n luâ ̣t đi ̣nh , ngày 9/12/2020, ông Nguyễn Văn C kháng cáo, nô ̣i dung không chấp nhâ ̣n phán quyế t của án sơ thẩm , đề nghị cấp phúc thẩm huỷ toàn bộ nô ̣i dung án sơ thẩm, buô ̣c Tổng Công ty Bảo hiểm B phải trả số tiền 6.710.000.000 đồng cho ông.

Ngày 11/1/2021, ông Nguyễn Văn C có gửi kháng cáo bổ sung , nô ̣i dung cho rằng án sơ thẩm xác đi ̣nh các ông Nguyễn Xuân Đ và Nguyễn Quang T là người làm chứ ng là không đúng, họ phải là những người có quyền lợi , nghĩa vụ liên quan; đồng thờ i giải thich la ̣i nô ̣i dung kháng cáo ngày 9/12/2020, theo đó ch ỉ đề nghị c ấp phúc

́ thẩm buô ̣c Tổng Công ty Bảo hiểm B phải trả số tiền 6.710.000.000 đồng, không đề nghị cấp phúc thẩm huỷ toàn bộ nội dung án sơ thẩm.

Ngày 5/2/2021, ông Nguyễn Văn C tiếp tu ̣c có văn bản gử i Toà án nhân d ân tỉnh Quảng Bình tiêu đề ghi “Đơn kháng cáo bổ sung ”, nô ̣i dung cho rằng trong giai đoa ̣n xét xử sơ thẩm và ta ̣i đơn kháng cáo , ông có thay đổi không yêu cầu Tổng Công ty Bảo hiểm B bồi thườ ng số tiền 7.800.000.000 đồng cùng với khoản tiền lai như đơñ khở i kiê ̣n mà chi yêu cẩ

̀u bồi thườ ng vớ i số tiền 6.000.000.000 đồng và 710.000.000 đồng tiền lai lã ̀ do muố n chia sẻ bớ t khó khăn cho Tổng Công ty Bảo hiểm B . Nay thấy phia Bảo hiểm không có thái độ h ợp tác, tìm cách né tránh trách nhiệm , nên ông

́ giữ nguyên yêu cầu về vấn đề bồi thườ ng như Đơn khở i kiê ̣n.

Ngày 5/1/2021, bà Trần Thi ̣ H1 là người có quyền lợi nghia vu ̣̃

liên quan có đơn kháng cáo , nô ̣i dung cho rằng án sơ thẩm không chấp nhâ ̣n yêu cầu khở i kiê ̣n của nguyên đơn – Ông Nguyễn Văn C là không đúng; đề nghị TAND tỉnh Quảng Bình xét xử phúc thẩm buộc Tổng Công ty Bảo hiểm B phải bồi thường theo giá trị hợp đồng đa kỹ ́.

Ông Võ Văn S theo xá c đi ̣nh của Á n sơ thẩm là ngườ i làm chứ ng , nhưng ngày 5/1/2021 có văn bản tiêu đề ghi là đơn kháng cáo, nô ̣i dung cho rằng bản thân minh là

̀ ngườ i có quyền lợi , nghĩa vụ liên quan , đề nghị Toà án cấp phúc thẩm xét xử đúng pháp luật để bảo vệ quyền, lợi ich hợp pháp của bên tham gia bảo hiểm.

́

Tại phiên toà phúc thẩm, Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm giải quyết vụ án, nô ̣i dung cho rằng Thẩm phán , Hô ̣i đồng xét xử , Thư ký phiên toà và những ngườ i tham gia tố tu ̣ng đa tuân thũ

̉ các quy đi ̣nh pháp luâ ̣t tố tu ̣ng trong giai đoa ̣n xét xử phúc thẩm; về đườ ng lối giải quyết vu ̣ án đề nghi ̣ Hô ̣i đồng xét xử y án sơ thẩm vi

̀ quyết đi ̣nh của án sơ thẩm là có căn cứ pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Ngày 20/6/2019, Công ty B và ông Nguyễn Văn C ký kết hợp đồng số QBI.D6.TC.19.HD3019151 về bảo hiểm thân tàu cá và thuyền viên , theo đó về bảo hiểm thân tàu , số tiền bảo hiểm là 7.800.000.000 đồng, vớ i phi bảo hiểm là

́ 62.400.000 đồng. Sau khi ký kết hợp đồng , phía Công ty B đa cẫ ́p cho ôn g Nguyễn Văn C Giấy chứ ng nhâ ̣n bảo hiểm số 3019151 và xuất H oá đơn giá trị gia tăng số 0001927, theo đó ta ̣i cô ̣t tên hàng hoá di ̣ch vu ̣ ghi bảo hiểm tàu cá và bảo hiểm thuyền viên tàu QB-92246-TS; tại cột số tiền ghi số tiền 62.400.000 đồng và 5.250.000 đồng.

Ngày 26/8/2019 trên đườ ng đi khai thác hải sản, tàu QB-92246-TS do chủ tàu Nguyễn Văn C làm thuyền trưởng gặp tai nạn chìm tàu tại vị trí có toạ độ (16o23’N – 108o21’E) thuô ̣c vùng biển Đà Nẵng. Về sự cố này phia Tổng Công ty Bảo hiểm B và

́ Công ty B cho rằng ta ̣i đi ểm 8.2.1 của Hợp đồng QBI.D6.TC.19.HD3019151 mà hai bên đa kỹ ́ kết quy đi ̣nh phi bảo hiểm phải thanh toán tron g vòng 30 ngày, kể từ ngày

́ Hợp đồng bảo hiểm có hiệu lực ; đồng thờ i mu ̣c 2 Điều 13 Quy tắc bảo hiểm tàu cá QTTC/BV- 2016 ban hành theo Quyết đi ̣nh số 5373/QĐ-BHBV ngày 16/11/2016 của Tổng Giám đốc Tổng Công ty Bảo hiểm B cũng quy định rõ: “Trong mọi trườ ng hợp mặc dù Bảo Viê ̣t đã chấp nhận bảo hiểm và đã cấp Giấy chứ ng nhận bảo hiểm hoặc Giấy sử a đổi bổ sung (nếu có ) cho Ngườ i được bảo hiểm , hiê ̣u lực bảo hiểm của tàu sẽ tự động chấ m dứ t ngay sau khi phá t sinh một trong những trườ ng hợp sau

: a) Ngườ i bảo hiểm không thanh toá n phi bảo hiểm đầy đủ và đú ng hạn theo quy đi ̣nh tại

́

điểm 2 Điều 17 của Quy tắ c nà y (trừ khi có thoả thuận khá c bằ ng văn bản )”. Do đó đa tữ ̀ chối viê ̣c bồi thườ ng tổn thất do tai na ̣n nói trên, vì việc có nộp phí bảo hiểm của ông Nguyễn Văn C thực hiê ̣n sau mô ̣t tháng kể từ ngày hợp đồng có hiệu lực và sau ngày xảy ra tai nạn chìm tàu . Phía N guyên đơn ông Nguyễn Văn C và N gườ i có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị H1 cho rằng ông Nguyễn Văn C đa kỹ ́ Hợp đồng bảo hiểm thâ n tà u và thuyền viên vớ i Công ty B, đa đượ̃

c Công ty B cấp Giấy chứ ng nhâ ̣n bảo hiểm , xuất H oá đơn Giá tri ̣ gia tăng , nên Công ty B phải có trách nhiê ̣m bồi thườ ng đối vớ i tai na ̣n chìm tàu ngày 26/8/2019 theo Hợp đồng đã được hai bên ký kết.

Về tranh chấp giữa hai bên nói trên thấy rằng theo quy đi ̣nh ta ̣i Thông tư

39/2014/TT-BTC ngày 31/3/2014 của Bộ Tài Chính hướng dẫn thi hành Nghị đi ̣nh số 51/2010/NĐ-CP ngày 14/5/2010 và Nghị định số 04/2014/NĐ-CP ngày 17/1/2014 của Chính phủ quy định về hoá đơn bán hàng, cung ứ ng di ̣ch vu ̣, tại điểm a khoản 2 Điều 16 có quy định: “Ngà y lập hoá đơn đối vớ i cung ứ ng di ̣ch vụ là ngày hoàn thành việc cung ứ ng di ̣ch vụ, không phân biê ̣t đã thu được tiền hay chưa thu được tiền” . Do đó theo quy đi ̣nh pháp luâ ̣t này , từ ngày 20/6/2019 phát sinh trách nhiệm bảo hiểm của Công ty B, không phân biê ̣t viê ̣c ông Nguyễn Văn C đa nô ̣̃ p phi bảo hiểm hay chưa .

́ Tuy vâ ̣y ở đây có vấn đề thiếu rõ ràng , minh ba ̣ch mà hai bên chưa làm rõ khi ký kết hợp đồng và nhất là khi xuất Hoá hơn g iá trị gia tăng , đó là khi Công ty B xuất Hoá đơn giá tri ̣ gia tăng 0001927 có đồng nghĩa với việc Công ty có trách nhiê ̣m cung ứ ng dịch vụ bảo hiểm trong suốt thời hạn bảo hiểm (từ ngày 20/6/2019 cho đến hết ngày 19/6/2020), và khi đó số phí mà ông C chưa đóng trở thành khoản nợ mà Công ty B có quyền đòi ngay cả sau khi thời hạn bảo hiểm kết thúc, hay viê ̣c xuất hoá đơn này chỉ bảo đảm cho việc cung ứng d ịch vụ bảo hiểm trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày Hợp đồng bảo hiểm có hiệu lực, nếu sau thời hạn 30 ngày mà phí bảo hiểm chưa được nô ̣p, thì việc cung ứng dịch vụ bảo hiểm sẽ chấm dứ t. Do đó H oá đơn này có được xem như là thoả thuâ ̣n khác bằng văn bản về hiê ̣u lực của Giấy chứ ng nhâ ̣n bảo hiểm quy đi ̣nh ta ̣i Điều 13 mục 2 Quy tắc bảo hiểm tàu cá QTTC/BV-2016 hay không? Nếu cho rằ ng viê ̣c xuất Hoá đơn này nhằm bảo đảm việc cung ứ ng di ̣ch vu ̣ trong thờ i hạn 30 ngày kể từ ngày ký hợp đồng thì cũng không t hoả đáng, vì bản thân trong Hợp đồng đa quy đi ̣̃

nh rõ hiê ̣u lự c hợp đồng có từ ngày ký H ợp đồng và thời hạn thanh toán phí bảo hiểm trong vòng 30 ngày kể từ ngày Hợp đồng có hiệu lực. Như vậy nếu không có viê ̣c xuất Hoá đơn thi theo Hợp đồng, trong vòng 30 ngày kể từ ngày ký kết

̀ Hợp đồng, phía Công ty Bảo hiểm vẫn phải bảo đảm việc cung ứng dịch vụ bảo hiểm cho ngườ i mua bảo hiểm trong trườ ng hợp ngườ i mua bảo hiểm chưa nô ̣p phi . Ở giai

́ đoa ̣n xét xử sơ thẩm , cũng như các văn b ản gửi cho Toà án Công ty B đều có ý kiến cho rằng viê ̣c xuất hoá đơn giá tri ̣ gia tăng của Công ty B là tạo điều kiện cho khách hàng nợ phí bảo hi ểm trong thời hạn 30 ngày, tuy nhiên, tại phiên toà phúc thẩm , khi Hô ̣i đồng xét xử hỏi vớ i nô ̣i dung là bản thân Hợp đồng cũng đa quy đi ̣̃

nh ngườ i mua phí bảo hiểm được nợ phí bảo hiểm trong thời hạn 30 ngày, cũng như trước đây khi Công ty B chưa đưa ra quy đi ̣nh xuất hoá đơn giá tri ̣ gia tă ng vào ngày ký kết hợp đồng trong trườ ng hợp ngườ i mua bảo hiểm chưa đóng phí thì người mua bảo hiểm vẫn được cung ứ ng di ̣ch vu ̣ bảo hiểm trong 30 ngày kể từ ngày ký hợp đồng , vâ ̣y ý nghĩa của việc xuất hoá đơn giá trị gia tăng đối vớ i ngườ i mua bảo hiểm là ở chỗ nào, ông Dương Anh D – Phó giám đốc Công ty trả lời vớ i nô ̣i dung là mục đích của việc xuất hoá đơn giá trị gia tăng là để người mua bảo hiểm có đủ điều kiện được UBND tỉnh Quảng Binh hỗ trợ 50% kinh phi mua bảo hiểm thân tà u và bảo hiểm thuyền

̀

́

viên. Như vâ ̣y theo ý kiến trả lờ i của ông D, có thể thấy viê ̣c UBND tinh Quả

̉ng Binh

̀ quy đi ̣nh hồ sơ xin hỗ trợ kinh phi mua bảo hiểm của các chủ tàu cá phải có hoá đơn

́ giá trị gia tăng là nhằm tránh những trường hợp không dùng tiền được hỗ trợ để mua bảo hiểm. Tuy vâ ̣y, nếu cho rằng tuy đa đượ̃

c Công ty Bảo Việt Quảng Bình xuất hoá đơn giá tri ̣ gia tăng nhưng trong thờ i ha ̣n 30 ngày, kể từ ngày ký Hợp đồng , ngườ i mua bảo hiểm không nô ̣p phi bảo hiểm thi Hợp đồng bảo hiểm se tự̃ đô ̣ng chấm dứ t

́

̀

hiê ̣u lực như ý kiến của Công ty B , thì yêu cầu của UBND tinh Quả

̉ng Binh về viê ̣c

̀ buô ̣c hồ sơ xin hỗ trợ kinh phi của các chủ tàu cá phải có hoá đơn giá tri ̣ gia tăng để

́ tránh trường hợp các chủ tàu cá nhận tiền hỗ trợ nhưng không dùng tiền hỗ trợ đó để mua bảo hiểm cũng không có ý nghĩa gi, vì điều này vẫn có thể xảy ra. Vì vậy, chỉ có

̀

cách lý giải là sau khi được xuất hoá đơn giá trị gia tăng , khoản nợ phí bảo hiểm của các chủ tàu cá đa tham gia kỹ

́ kết Hợp đồng bảo hiểm là khoản nợ mà các chủ tàu cá có nghĩa vụ phải trả , ngay cả khi hết t hờ i ha ̣n bảo hiểm ghi trong H ợp đồng mới giải thích được một cách thoả đáng quy đi ̣nh của UBND tinh Quả

̉ng Binh.

̀

Đối với chủ tàu tham gia bảo hiểm, Thông báo thu phi bảo hiểm là loa ̣i giấy

́ tờ quan tro ̣ng, có ý nghĩa nhắc nhở cũng như là căn cứ để họ đóng phí bảo hiểm theo yêu cầu của C ông ty bảo hiểm . Điều này thể hiê ̣n ở các quy đi ̣nh sau trong quá trinh

̀ hai bên ký kết hợp đồng

: Tại khoản

8.1 Điều 8 của Hợp đ

ồng QBI.D6.TC.19.HĐ3019151 mà hai bên đã ký kết quy định rõ : “Phi bảo hiểm được

́ tính cho tàu và ghi cụ thể trên Giấy chứng nhận và /hoặc thông bá o thu phi bảo hiểm

́ của tàu. Thông bá o thu phi bảo hiểm cho tà u được đinh kè m và được coi là phụ l ục

́

́ không thể tá ch rờ i của Hợp đồng bảo hiểm này. Bên B có trá ch nhiê ̣m thanh toá n phi

́ bảo hiểm theo đúng th ời hạn được quy định trong Hợp đồng / Thông bá o thu phi. Phí

́ bảo hiểm được thanh toán bằng Vi ệt Nam đồng”. Và tại mục điều kiện , điều khoản, quy tắc cam kết và sử a đổi bổ sung của Giấy chứ ng nhâ ̣n bảo hiểm mà Công ty B cấp ngày 20/6/2019 cũng có quy định về thông báo thu phí như sau : “Giấy chứ ng nhận bảo hiểm này và (các) sử a đổi bổ sung liên quan chỉ có hiê ̣u lực khi phi bảo hiểm

́ được thanh toá n đầy đủ và đú ng hạn như được quy đi ̣nh trên Giấy chứ ng nhận bảo hiểm nà y và thông bá o thu phi kè m theo , trừ khi có thoả thu ận khác bằng văn bản

́ giữa Bảo hiểm Bảo Việt và người được bảo hiểm”. Như vâ ̣y theo các quy đi ̣nh này thi

̀ Công ty B phải có trách nhiê ̣m phát hành T hông báo thu phi bảo hiểm kèm theo H ợp

́ đồng bảo hiểm và Giấy chứ ng nhâ ̣n bảo hiểm để gia o cho ông Nguyễn Văn C , tạo điều kiê ̣n cho ông C thực hiê ̣n đúng nghĩa vụ của mình theo hợp đồng đa kỹ ́ kết . Tuy vâ ̣y trong thực tế Công ty B đa không thự̃

c hiê ̣n quy đi ̣nh này, dẫn đến làm cho Ngườ i mua bảo hiểm gă ̣p khó khăn trong viê ̣c hiểu và thực hiê ̣n Hợp đồng.

Do sự thiếu rõ ràn g trong viê ̣c xuất H oá đơn giá trị gia tăng và không phát hành Thông báo thu phi của Công ty B như đa nõ ́i ở trên, dẫn đến ngay bản thân Công

́ ty B cũng có những viê ̣c làm thiếu nhất quán sau khi tai na ̣n chim tàu QB -92246-TS

̀ xảy ra. Cụ thể sau tai nạn xảy ra một ngày, ông Nguyễn Văn C mớ i thanh toán phi bảo

́ hiểm, nhưng Công ty B không từ chối trách nhiê ̣m bảo hiểm ngay từ đầu , mà vẫn cử nhân viên của minh là các ông Nguyễn Xuân Đ, Mai Quốc T1, Nguyễn Đinh H1, Mai

̀

̀ Duy N vào Đà Nẵng để giải quyết vụ chìm tàu liên quan đến trách nhiệm bảo hiểm của mình. Chỉ khi xác định khô ng thể tru ̣c vớ t được T àu, Công ty B mớ i thể hiê ̣n rõ quan điểm là vụ chìm tàu QB-92246-TS ngày 26/8/2019 không thuô ̣c trách nhiê ̣m của Công ty B. Cũng vì sự không rõ ràng nói trên mà ng ay cả mô ̣t số nhân viên của Công ty B tại thời điểm xảy ra v ụ chìm tàu cũng cho rằng Công ty B phải có trách nhiệm bồi thườ ng trong vu ̣ chim tàu cá QB -92246-TS. Cụ thể tại bút lục 146, ông Nguyễn

̀ Xuân Đ nguyên là nhân viên Công ty B có ý kiến như sau : “Sau khi tai nạn xảy ra , tôi đã gọi điê ̣n cho anh S là tàu chưa nộp phí và thông báo chủ tàu nộp tiền và anh S cùng vợ chủ tàu đã nộ p tiền và o tà i khoản của Công ty B. Khi tà u bi ̣ tai nạn ở Đà Nẵng, Chủ tàu có báo với Công ty B và lãnh đạo Công ty B (có giấy giới thiệu kè m theo) đã cử tôi và anh T1 lái xe, anh Nguyễn Đinh H1, anh Mai Duy N là cán bộ Bảo

̀

Viê ̣t thờ i điểm đó có và o để giú p chủ tà u trục vớ t ”. “Theo tôi thi chủ tà u chưa nộp

̀ phí, nhưng bên cạnh đó Công ty B cũng chủ quan thiếu đôn đốc thông bá o thu phi và

́ chấm dứ t hợp đồng vớ i tà u QB -92246-TS. Nên Công ty và Chủ tàu có thể thống nhất thương lượng giải quyết một cá ch tốt nhất cho hai bên”. Tại Bút lục 145, ông Nguyễn Quang T, nguyên là nhân viên Công ty B cũng có ý kiến như sau : “Thiết nghi trong

̃ Hợp đồng thể hiện rõ tại cá c Điều 8.1 và Điều 13 của Hợp đồng đã quy đi ̣nh rõ, nên đề nghị Toà xử cho anh C được hưởng quyền lợi bảo hiểm theo quy đi ̣nh”.

Tại điểm

8.2.1 thuô ̣c khoản

8.2 Điều 8 của Hợp đồng QBI.D6.TC.19.HĐ3019151 có quy định: “Thờ i hạn thanh toá n phi bảo hiểm : Thanh

́ toán toàn bộ phí trong vòng 30 ngày kể từ ngày H ợp đồng bảo hiểm có hiệu lực (chậm nhất đến hết ngà y 30/7/2019)”. Tại Điều 13 về hiê ̣u lực của Hợp đồng này quy đi ̣nh Hợp đồng có hiệu lực kể từ ngày hai bên đã ký. Như vâ ̣y điểm 8.2.1 của Hợp đồng vừ a quy đi ̣nh ngườ i mua bảo hiểm – ông Nguyễn Văn C phải thanh toán toàn bộ phí bảo hiểm trong khoảng thờ i gian từ ngày 20/6/2019 đến ngày 20/7/2019, lại vừa quy đi ̣nh ông C phải thanh toán toàn bộ phí bảo hiểm trong khoảng thời gian từ ngày 20/6/2019 đến ngày 30/7/2019. Mâu thuẫn này làm cho ngay trong Hợp đồng mà hai bên đa kỹ ́ kết không xác đi ̣nh rõ được vấn đề rất quan tro ̣ng là thờ i ha ̣n thanh toán phi

́ bảo hiểm. Đây là sơ suất, sai sót của cả hai bên trong viê ̣c ký kết Hợp đồng. Lẽ ra sau khi ký kết H ợp đồng, hai bên phải có trách nhiê ̣m cùng nhau sử a đổi H ợp đồng để khắc phu ̣c sai sót trên, tuy vâ ̣y cả hai bên đa không lã

̀m được điều này.

Về các kháng cáo bổ sung các ngày 11/1/2021, 5/2/2021 của ông Nguyễn Văn C vớ i nô ̣i dung Á n sơ thẩm xác đi ̣nh các ông Nguyễn Xuân Đ , Nguyễn Quang T là người làm chứng là không đúng , họ phải là người có quyền lợi , nghĩa vụ liên quan; yêu cầu bi ̣ đơn bồi thườ ng số tiền 7,8 tỷ đồng cùng lãi ; Hô ̣i đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng các nô ̣i dung này vượt quá nô ̣i dung kháng cáo ngày 9/12/2020, đồng thờ i đây là kháng cáo quá ha ̣n nên không xem xét giải quyết.

Về Văn bản của ông Võ Văn S gử i Toà án nhân dân tinh Quả

̉ng Binh ngày

̀ 5/1/2021 với tiêu đề đơn kháng cáo, Cấp phúc thẩm thấy rằng mặc dù trước đó TAND thành phố Đồng Hới có triệu tập ông Võ Văn S đến tham gia với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vu ̣ liên quan, nhưng sau đó Bản án sơ thẩm đã xác địn h ông Võ Văn S tham gia tố tu ̣ng trong V ụ án này với tư cách người làm chứng . Viê ̣c xác đi ̣nh như vâ ̣y là đúng đắn vi ông S chỉ là người giúp ông Nguyễn Văn C trong viê ̣c liên hê ̣ vớ i

̀ các nhân viên Công ty B để làm các thủ tu ̣c cho viê ̣c ký kết H ợp đồng bảo hiểm , tứ c là có biết một số việc liên quan đến vụ kiện , ông Sơn không có quyền lợi và nghia vu ̣̃ gì trong vụ án này . Mă ̣t khác văn bản ông Võ Văn S gử i TAND tinh Quả

̉ng Binh sau

̀ 15 ngày kể từ ngà y xét xử sơ thẩm vu ̣ án và nô ̣i dung trong đơn không liên quan đến quyền và nghĩa vụ của ông S. Do đó, Toà án cấp phúc thẩm không xem xét giải quyết yêu cầu này của ông Võ Văn S.

Về đơn kháng cáo của bà Trần Thi ̣ H1 yêu cầu Tổng Công ty Bảo hiểm B bồi thườ ng thiê ̣t hại chìm tàu theo giá trị Hợp đồng đã ký, thấy rằng bà Trần Thị H1 là ngườ i có quyền lợi , nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độ c lâ ̣p, yêu cầu của bà H 1 hoàn toàn t hống nhất vớ i yêu cầu theo Đ ơn khở i kiê ̣n và Đ ơn kháng cáo của ông Nguyễn Văn C ; mă ̣t khác Đ ơn gử i đến Toà án sau thờ i ha ̣n 15 ngày được kháng cáo kể từ ngày xét xử sơ thẩm, vì vậy cấp phúc thẩm không xem xét giải quyết.

Vớ i các phân tich ta ̣i các đoạn [3], [4],[5],[6] thấy rằng viê ̣c thờ i ha ̣n, thủ

́ tục có phải chờ thông báo thu phí hay không để bên mua bảo hiểm nộp phí bảo hiểm không được xác đi ̣nh rõ ràng , minh ba ̣ch, dẫn đến khi tai na ̣n chim tàu QB -92246-TS

̀ xảy ra, hai bên đều lý giải theo cách riêng của minh có lỗi ngang nhau từ phia hai bên

̀

́ là bên bán và bên mua dịch vụ bảo hiểm . Do đó đối vớ i thiê ̣t ha ̣i này mỗi bên phải chịu 50% trách nhiệm. Cụ thể theo Điều 4 của Hợp đồng quy định số tiền bảo hiểm thân tàu là 7.800.000.000 triê ̣u đồng và trong trườ ng hợp xảy ra tổn thất toàn bô ̣ thực tế thi bên A se bỗ ̀i thườ ng tổn thất theo giá tri ̣ thực tế của tàu ta ̣i thờ i điểm xảy ra tổn

̀ thất được đi ̣nh giá bở i C ông ty, tổ chứ c đi ̣nh giá đô ̣c lâ ̣p được các bên đồng ý chi

̉ đi ̣nh, thực hiê ̣n tuân thủ theo các quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t. Tại giai đoạn xét xử sơ thẩm cả hai phía Nguyên đơn và B ị đơn chưa tiế n hành viê ̣c thống nhất chỉ định tổ chức đi ̣nh giá giá tri ̣ thực tế của tàu QB -92246-TS ta ̣i thờ i điểm chìm tàu theo quy định tại Hợp đồng, cũng như không có ý kiến gì về vấn đề này . Ngày 11/3/2021, TAND tinh̉ Quảng Bình có công văn số 354/TA, yêu cầu các bên cho biết ý kiến về viê ̣c chấp nhâ ̣n giá tri ̣ tàu ta ̣i thờ i điểm xảy ra chim tàu là 7,8 tỷ đồng, hay thực hiê ̣n viê ̣c đi ̣nh

̀

giá như quy định tại Điều 4 Hợp đồng, nhưng phia Tổng Công ty Bảo hiểm B không

́ có ý kiến; Công ty B tại Công văn số 72/BVQB/GĐBT ngày 18/3/2021 cho rằng thờ i điểm tàu xảy ra tổn thất Giấy chứ ng nhâ ̣n bảo hiểm không có hiê ̣u lực

, nên không phát sinh sự kiê ̣n bảo hiểm, vì vậy Bảo hiểm Bảo Việ t không thực hiê ̣n thẩm đi ̣nh la ̣i giá tàu. Phía ông Nguyễn Văn C cho rằng trong quá trình giải quyết vụ án Tổng Công ty Bảo hiểm B không đưa ra yêu cầu giám đi ̣nh tài sản , nghĩa là đồng ý giá trị tài sản tranh chấp 7,8 tỷ đồng. Do đó Hô ̣i đồng xét xử xác đi ̣nh thiê ̣t ha ̣i vu ̣ chim tàu QB -

̀ 92246-TS là 7,8 tỷ đồng, Nguyên đơn và Bị đơn mỗi bên phải chịu 50% đối vớ i thiê ̣t hại này, cụ thể mỗi bên phải chịu 3,9 tỷ đồng.

Nghĩa vụ chi trả số tiền 3,9 tỷ đồng của Tổng Công ty Bảo hiểm B được xác định từ ngày 1/10/2019, tứ c là sau 15 ngày kể từ ngày ông C có văn bản gửi Công ty B thông báo sự cố chim tàu và yêu cầu giải quyết (16/9/2019) theo quy đi ̣nh ta ̣ i

̀ Điều 29 Luâ ̣t kinh doanh bảo hiểm. Do đó thờ i gian từ ngày 1/10/2019 đến ngày xét xử sơ thẩm vu ̣ án 26/11/2020 (1 năm 1 tháng 25 ngày), Bị đơn phải chịu thêm số tiền lãi của số tiền 3,9 tỷ đồng theo quy định tại Điều 357 Bô ̣ luâ ̣t Dân sự. Cụ thể số tiền lãi này là: 3,9 tỷ đồng x (13 tháng + 25/30 tháng) x 10/12%/tháng = 3,9 tỷ đồng x (13 + 5/6) tháng x 10/12% /tháng = 449.583.000 đồng. Như vâ ̣y, tổng số tiền mà Tổng Công ty Bảo hiểm B phải chi trả cho ôn g Nguyễn Văn C do vu ̣ tai na ̣n chim tàu QB -

̀ 92246-TS là 4.349.583.000 đồng. Số tiền này chưa vượt quá số tiền mà ông Nguyễn Văn C yêu cầu được nhâ ̣n khi thực hiê ̣n viê ̣c thay đổi yêu cầu khở i kiê ̣n ta ̣i P hiên toà sơ thẩm.

Do đó cần chấp nhâ ̣n mô ̣t phần kháng cáo của ông Nguyễn Văn C, sử a án sơ thẩm, buô ̣c Tổng Công ty Bảo hiểm B phải bồi thường cho ông Nguyễn Văn C số tiền 4.349.583.000 đồng, do vu ̣ tai na ̣n chim tàu cá QB

-92246-TS xảy ra ngày

̀

26/8/2019 tại vùng biển thành phố Đà Nẵng.

. Do cấp phúc thẩm sử a án sơ thẩm , nên theo khoản 2 Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về án phí , lê ̣ phi Toà án, án phí được xác định như sau:

́

- Tổng Công ty Bảo hiểm B phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là : 112 triê ̣u đồng + 0,1% x (4.349.583.000 đồng – 4.000.000.000 đồng) = 112.349.583 đồng.

- Ông Nguyễn Văn C thuô ̣c diê ̣n được giảm 50% án phí theo quy định tại khoản 1 Điều 13 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lê ̣ phi Toà án, nên phải chi ̣u án phi dân sự sơ thẩm là:

́

́ ½ x [72.000.000 đồng + 2% x (2.360.417.000 đồng – 2.000.000.000 đồng)] = ½ x [72.000.000 đồng + 2% x 360.417.000 đồng] = ½ x (72.000.000 đồng + 7.208.340 đồng) = ½ x 79.208.340 đồng = 39.604.170 đồng.

-Ông Nguyễn Văn C không phải chi ̣u án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm b, g khoản 1 Điều 40, Điều 308, khoản 2 Điều 309 Bô ̣ luâ ̣t Tố tu ̣ng D ân sự; các Điều 12, 13, 14, 15, 29 Luâ ̣t kinh doanh bảo hiểm ; khoản 1 Điều 147, khoản 1, khoản 2 Điều 357 Bô ̣ luâ ̣t Dân sự; khoản 1 Điều 13, khoản 2 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí , lê ̣ phi Toà án,

́ tuyên xử :

1.Chấp nhâ ̣n mô ̣t phần kháng cáo của N guyên đơn ông Nguyễn Văn C , buô ̣c Bị đơn là Tổng Công ty Bảo hiểm B phải bồi thường cho ông Nguyễn Văn C số tiền 4.349.583.000 đồng, do xảy ra vu ̣ tai na ̣n chim tàu cá QB

-92246-TS vào ngày

̀

26/8/2019 tại vùng biển thành phố Đà Nẵng.

2.Tổng Công ty Bảo hiểm B

không phải trả la ̣i số tiền phi bảo hiểm

́ 67.650.000 đồng mà ông Nguyễn Văn C đa nô ̣̃ p vào tài khoản của Tổng Công ty Bảo hiểm B sau khi xảy ra vu ̣ chim tàu cá QB-92246-TS.

̀

3.-Tổng Công ty Bảo hiểm B phải chịu 112.349.583 đồng án phi dân sự sơ

́ thẩm.

-Ông Nguyễn Văn C phải chịu 39.604.170 đồng án phi dân sự sơ thẩm , được

́ trừ số tiền ta ̣m ứ ng án phi đa nô ̣̃ p là 28.950.000 đồng ta ̣i Biên lai thu ta ̣m ứ ng án phi

́

́ lê ̣ phi toà án số 0005400 ngày 12/2/2020 tại Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố

́ Đồng Hới, số tiền còn phải nô ̣p tiếp là 10.654.170 đồng.

-Ông Nguyễn Văn C không phải chi ̣u án phi dân sự phúc thẩm.

́

Kể từ ngày có đ ơn yêu cầu thi hành án của N gườ i được thi hành án cho đến khi thi hành xong k hoản tiền bồi thường trên , Bên phải thi hành án còn phải chi ̣u khoản tiền lãi của số tiền còn phải th i hành theo mứ c lai suẫ

́t quy đi ̣nh ta ̣i khoản 2 Điều 468 Bô ̣ luâ ̣t Dân sự năm 2015 (do đây là trườ ng hợp các bên không có thoả thuâ ̣n). Trườ ng hợp bản án được thi hành theo quy đi ̣nh ta ̣i Điều 2 Luâ ̣t thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự , Ngườ i phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án , quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyê ̣n thi hành án , bị cưỡng chế thi hành án theo quy đi ̣nh ta ̣i các Điều 6,7,9,7a,7b Luâ ̣t thi hành án dâ n sự năm 2008 và Luật sửa đổi , bổ sung mô ̣t số điều của Luâ ̣t thi hành án dân sự năm 2014; thờ i hiê ̣u thi hành án dân sự được thực hiê ̣n theo quy đi ̣nh ta ̣i Điều 30 Luâ ̣t thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luâ ̣t kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ