vanban.org

Bản án 15/2020/HSST — Hình sự

TAND huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang Tuyên án 24/02/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lê Duy H phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy", xử phạt: Bị cáo Lê Duy H 05 (năm) năm 06( sáu) tháng tù.

Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì thư có ký hiệu là “QT” được dán kín, bên trong đựng chất ma túy hoàn lại sau giám định, được niêm phong lại bằng dấu của phòng Kỹ thuật hình sự- Công an tỉnh Bắc Giang và có chữ ký của giám định viên và đại diện cơ quan trưng cầu giám định (Đặc điểm của v… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Duy H phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của B…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Duy H phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy", xử phạt: Bị cáo Lê Duy H 05 (năm) năm 06( sáu) tháng tù.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LẠNG GIANG
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2020/HSST
Ngày 24 tháng 02 năm 2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Thân Hồng Giang

Các hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Thanh Xuân và ông Trần Thành Đô

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Ngô Thị Thủy, Thư ký Toà án

nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang tham gia phiên toà: Ông Lê Đình Luyện - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 02 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 08/2020/HSST ngày 17 tháng 01 năm 2020 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2020/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 02 năm 2020 đối với bị cáo:

* Họ và tên: Lê Duy H, sinh năm 1990.Tên gọi khác: Không có. Giới tính: Nam; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn C, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Văn hóa: 09/12; con ông Lê Thanh V, sinh năm 1950 và con bà Phạm Thị L, sinh năm 1953; vợ con chưa có;

-- Nhân thân: Năm 2013, bị cáo bị Công an Phường Trần Nguyên Hãn, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”.

- Tiền án:

+ Bản án số 19 ngày 31/3/2015, bị Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang xử phạt 08 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Tài sản trộm cắp trên 2.000.000đ). H chấp hành xong hình phạt tù ngày 22/8/2015, chấp hành xong án phí ngày 07/9/2015;

+ Bản án số 05 ngày 16/02/2017, bị Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (trị giá tài sản trộm cắp dưới 02 triệu đồng). H chấp hành xong hình phạt tù ngày 29/12/2017, chấp hành xong án phí ngày 26/5/2017.

+ Bản án số 71 ngày 01/11/2018, bị Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo H chấp hành xong hình phạt tù ngày 07/10/2019, chấp hành xong án phí ngày 29/01/2019; chưa bồi thường dân sự trong bản án.

- Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ, tạm giam từ 20/12/2019 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam công an tỉnh Bắc Giang, có mặt tại phiên tòa.

* Người chứng kiến:

1. Anh Đặng Công Th, sinh năm 1992(vắng mặt)

Nơi cư trú: Thôn TM, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

2. Chị Nguyễn Lê B, sinh năm 1987(vắng mặt)

Nơi cư trú: Thôn Đ, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 09 giờ 25 phút ngày 20/12/2019, tại thôn 20, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang, Công an huyện Lạng Giang bắt quả tang bị cáo Lê Duy H đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ, gồm:

+ 01 túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khóa nhựa và viền màu đỏ bên trong đựng 02 đoạn ống nhựa đều được hàn kín hai đầu, gồm 01 đoạn màu xanh và 01 đoạn màu cam, bên trong mỗi đoạn ống nhựa đều đựng chất cục bột nghi là ma túy Heroin (thu giữ tại túi quần phía trước bên trái H đang mặc);

+ 01 đoạn ống nhựa màu vàng được hàn kín hai đầu, bên trong đựng chất cục bột nghi là ma túy Heroin (thu giữ tại túi áo khoác phía trước bên trái H đang mặc).

Vật chứng thu giữ được nghi là ma túy, Cơ quan điều tra Công an huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang đã niêm phong gửi giám định. Tại Kết luận giám định số 2053/KL- KTHS ngày 23/12/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự- Công an tỉnh Bắc Giang kết luận:

“Trong 01 phong bì có ký hiệu “QT” đã được niêm phong gửi giám định:

+ Trong 01 túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khóa nhựa và viền màu đỏ:

- Chất cục bột màu trắng đựng trong 01 đoạn ống nhựa màu xanh được hàn kín hai đầu là chất ma túy Heroine, có khối lượng 0,050 gam.

- Chất cục bột màu trắng đựng trong 01 đoạn ống nhựa màu cam được hàn kín hai đầu là chất ma túy Heroine, có khối lượng 0,029 gam.

+ Chất cục bột màu trắng đựng trong 01 đoạn ống nhựa màu vàng được hàn kín hai đầu là chất ma túy Heroine, có khối lượng 0,027 gam (BL 21)

Tại Cơ quan điều tra, Lê Duy H khai nhận: Bản thân H mắc nghiện ma túy heroine từ năm 2015. Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 20/12/2019, H đi nhờ xe của một người không quen biết lên khu vực thị trấn K để tìm mua ma túy về sử dụng. Khi vào đến khu đường sắt thuộc khu 3, thị trấn K, huyện L gặp một đối tượng nam giới không quen biết hỏi mua 200.000đ tiền ma túy. Đối tượng đó cầm tiền và đưa cho H 01 túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khóa nhựa viền màu đỏ, bên trong đựng 02 đoạn ống nhựa được hàn kín hai đầu (01 đoạn màu xanh, 01 đoạn màu cam, bên trong 02 đoạn ống nhựa đó đều chứa chất cục bột). H cầm túi ma túy vừa mua cất vào túi quần phía trước đang mặc rồi đi bộ về nhà. Khi H đi đến đoạn đường Quốc lộ 1A thuộc thôn 20, xã H, huyện L thì bị Tổ công tác Công an huyện Lạng Giang kiểm tra, bắt quả tang.

Ngoài ra, khi bị bắt còn thu giữ tại túi áo khoác phía trước bên trái H đang mặc 01 đoạn ống nhựa màu vàng bên trong có đựng chất cục bột. H khai mua đoạn ma túy trên vào ngày 18/12/2019 (vẫn mua của đối tượng nam giới trên ở khu 3, thị trấn K, huyện L) nhưng chưa sử dụng.

Tại cơ quan điều tra, Lê Duy H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Bản cáo trạng số 10/CT-VKS ngày 15 tháng 01 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang đã truy tố bị cáo Lê Duy H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự, với khung hình phạt từ 05 năm đến 10 năm tù.

Tại phiên tòa, kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Lê Duy H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106- BLTTHS, đề nghị xử phạt bị cáo Lê Duy H từ 05 năm đến 06 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo; tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án; miễn hình phạt bổ sung bằng tiền cho bị cáo.

Về vật chứng, đại diện VKS đề nghị:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì thư có ký hiệu là “QT” được dán kín, niêm phong bên trong đựng chất ma túy hoàn lại sau giám định.

Ngoài ra, đại diện VKSND huyện còn đề nghị về án phí và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Bị cáo tại phiên tòa đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng truy tố. Bị cáo nhận thức hành vi của mình đã thực hiện là vi phạm pháp luật, bị cáo xin được hưởng mức án nhẹ nhất để sớm trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định quyết tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang¸ Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng các quy định về thẩm quyền, trình tự tự thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, nên các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong quá trình giải quyết vụ án đều hợp pháp.

. Về hành vi phạm tội, tội danh và khung hình phạt áp dụng: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa đã thừa nhận bị cáo đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của mình, cụ thể:

Khoảng 09 giờ 25 phút ngày 20/12/2019, tại thôn 20, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang, Công an huyện Lạng Giang bắt quả tang bị cáo Lê Duy H đang có hành vi tàng trữ trái phép 0,106 gam ma túy Heroine, mục đích để sử dụng thì bị tổ công tác Công an huyện Lạng Giang kiểm tra phát hiện bắt quả tang, thu giữ toàn bộ vật chứng.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 20/12/2019, phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra cũng như số vật chứng đã thu giữ được, phù hợp với lời khai của những người làm chứng, phù hợp với không gian, thời gian, địa điểm xảy ra hành vi phạm tội. Đáng lưu ý thấy: Tại bản án số số 71/2018/HSST ngày 01/11/2018, bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo H chấp hành xong hình phạt tù ngày 07/10/2019, chấp hành xong án phí ngày 29/01/2019; nay chưa bồi thường dân sự trong bản án. Tại bản án này đã xác định bị cáo tái phạm.

Như vậy, HĐXX đã có đầy đủ cơ sở để khẳng định bị cáo Lê Duy H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội danh và hình phạt được quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự. Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý. Bản cáo trạng Viện Kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật như trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật

. Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy:

- Về nhân thân: Xác định bị cáo có nhân thân xấu: Năm 2013, bị cáo bị Công an Phường Trần Nguyên Hãn, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”, sau đó lại bị xét xử 03 lần về tội “Trộm cắp tài sản” (như phần đầu bản án đã nêu).

-Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

-Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo Lê Duy H có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; bị cáo có bố đẻ là người được Nhà nước tặng thưởng huân huy chương kháng chiến chống Mỹ, số lượng ma túy bị cáo tàng trữ không nhiều (0,106 gam ma túy Heroine), nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Đánh giá về hành vi phạm tội của bị cáo, HĐXX xét thấy hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước. Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an của địa phương và sức khỏe của con người, gây ảnh hưởng không tốt đến trật tự gia đình và xã hội và là nguyên nhân làm phát sinh 1 số tội phạm nguy hiểm khác, là con đường lây lan của một số căn bệnh xã hội. Đối với các tội phạm về ma túy, Nhà nước ta đã và đang có các chế tài rất nghiêm khắc được quy định trong luật để xử lý loại tội phạm này, nhưng các tội phạm về ma túy vẫn diễn biến phức tạp, khó lường. Vì vậy, HĐXX thấy cần phải xử lý nghiêm tương xứng với tính chất và mức độ hành vi phạm tội của bị cáo để nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung đối với loại tội phạm này. HĐXX thấy cần phạt bị cáo với mức án như ý kiến đề nghị của đại diện VKSND huyện tại phiên tòa là phù hợp và có căn cứ.

Hiện nay, bị cáo đang bị tạm giam, để đảm bảo cho việc thi hành án, HĐXX thấy cần tiếp tục tạm giam bị cáo là phù hợp với Điều 329 - BLTTHS.

. Về hình phạt bổ sung: Theo hồ sơ vụ án và qua diễn biến tại phiên tòa, HĐXX thấy: Bị cáo là người nghiện ma túy, không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, sống vẫn phụ thuộc vào gia đình, chưa bồi thường theo bản án trước đã xét xử, nên cần miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Đối với đối tượng bán ma túy cho Lê Duy H, H khai không biết tên, tuổi, địa chỉ. Ngoài lời khai của H, Cơ quan điều tra không còn tài liệu nào khác xác minh làm rõ đối tượng đó để xử lý theo quy định.

. Về xử lý vật chứng:

Vật chứng thu giữ gồm: 01 phong bì có ký hiệu “QT” được dán kín, bên trong đựng chất ma túy hoàn lại sau giám định, được chuyển theo hồ sơ vụ án để giải quyết, HĐXX thấy: Ma túy là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành, nên cần tịch thu tiêu hủy;

. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm o khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 47 Bộ luật hình sự, các Điều 106, 135, 136, 293, 331, 332, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Căn cứ Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

1. Tuyên bố bị cáo Lê Duy H phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy", xử phạt: Bị cáo Lê Duy H 05 (năm) năm 06( sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 20/12/2019. Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

2. Về vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì thư có ký hiệu là “QT” được dán kín, bên trong đựng chất ma túy hoàn lại sau giám định, được niêm phong lại bằng dấu của phòng Kỹ thuật hình sự- Công an tỉnh Bắc Giang và có chữ ký của giám định viên và đại diện cơ quan trưng cầu giám định (Đặc điểm của vật chứng theo như Biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an và Chi cục THADS huyện Lạng Giang ).

3. Án phí: Bị cáo Lê Duy H phải chịu số tiền 200.000đ án phí HSST.

Án xử công khai sơ thẩm, báo cho bị cáo có mặt biết, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ