vanban.org

Bản án 15/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai Tuyên án 17/03/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Phạm Công D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Phạm Công D 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào trại chấp hành án, nhưng được trừ đi thời gian bị cáo đã bị tạm giữ từ ngày 24/11/2019 đến ngày 03/12/2019. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 (Một) phong bì niêm phong mẫu vật còn lại sau giám định … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Công D - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Công D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VĨNH CỬU
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2020/HS-ST
Ngày: 17/3/2020.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH CỬU

TỈNH ĐỒNG NAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Lâm.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Bình

Ông Trịnh Xuân Tháp

Thư ký phiên tòa: Ông Đường Anh Sơn – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tất Bắc– Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 3 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện V, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 05/2020/HSST ngày 04 tháng 02 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2020/QĐXXST- HS ngày 02 tháng 3 năm 2020 đối với bị cáo:

Phạm Công D, sinh năm 1990, tại Đồng Nai; Nơi đăng ký thường trú: Tổ 3, khu phố 5, thị trấn A, huyện V, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 08/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Công L (Chết) và bà Lưu Thị Xuân T, sinh năm 1971; Bị cáo là con duy nhất trong gia đình; bị cáo chưa có vợ; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 24/11/2019 đến ngày 03/12/2019 được Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện V ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại có mặt.

* Người làm chứng:

- Ông Nguyễn S, sinh năm 1940. (Vắng mặt)

Địa chỉ: Tổ 3, khu phố 5, thị trấn A, huyện V, tỉnh Đồng Nai.

- Ông Trần Văn L, sinh năm 1961. (Vắng mặt)

Địa chỉ: Tổ 10, khu phố 5, thị trấn A, huyện V, tỉnh Đồng Nai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 22/11/2019 Phạm Công D có nhu cầu sử dụng ma túy nên gọi điện hỏi người bạn tên P (không rõ lai lịch) để mua ma túy. P chỉ D đến khu vực cầu Săn Máu thuộc khu phố 1, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai mua ma túy của người tên T. D bắt xe đến khu vực cầu Săn Máu gặp người thanh niên tên T (không rõ lai lịch) mua ma túy với số tiền là 800.000 đồng. T nhận tiền và chỉ D đến chân cột điện gần đó lấy vỏ bao thuốc lá "JET", bên trong có 09 bịch ma túy đá. Sau đó D mang ma túy về phòng trọ số 14, nhà trọ ông Nguyễn S thuộc tổ 3 khu phố 5, thị trấn A, huyện V do D thuê cất giữ.

Đến 10 giờ 30 phút ngày 24/11/2019, Công an thị trấn A, huyện V kết hợp với tổ bảo vệ dân phố kiểm tra hành chính phòng trọ của D phát hiện tại vị trí góc bàn đặt bếp ga nấu ăn có 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu "JET" đựng 09 bịch nylon trong suốt đã được hàn kín, bên trong bịch nylon có chứa tinh thể màu trắng nghi là ma túy đá. Cơ quan Công an đã tiến hành tạm giữ 09 bịch nylon và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Tại cơ quan điều tra, Phạm Công D đã khai nhận tinh thể trong 09 bịch nylon là ma túy đá do D mua về để sử dụng.

 Tang vật tạm giữ:

- 09 bịch nylon trong suốt đã được hàn kín, bên trong bịch nylon có chứa tinh thể màu trắng;

- 01 cân tiểu ly điện tử không rõ nhãn hiệu.

 Tại Kết luận giám định số 1532/KLGĐ-PC09 ngày 29/11/2019 của Giám định viên Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng: 1,3624 gam, loại: Methamphetamine.

Hoàn lại đối tượng giám định: Mẫu vật còn lại sau khi giám định có khối lượng là 1,3223 gam được niêm phong số 1532/PC09-GĐMT.

Đối với hành vi mua bán trái phép chất ma túy của T và P xảy ra tại khu vức cầu Săn Máu thuộc phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh xử lý theo quy định.

Bản cáo trạng số 11/CT-VKSVC ngày 03/02/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện V truy tố bị cáo Phạm Công D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị xử phạt bị cáo Phạm Công D từ 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng đến 02 (Hai) năm tù; Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 (Một) phong bì niêm phong mẫu vật còn lại sau giám định ký hiệu số 1532/PC09-GĐMT; 01 cân tiểu ly điện tử; Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

* Bị cáo D nói lời nói sau cùng: Bị cáo thấy hành vi của mình là trái pháp luật, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện V, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Công D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với lời khai và các tài liệu chứng cứ thu thập được trong quá trình điều tra vụ án, đã có đủ cơ sở xác định: Ngày 22/11/2019 Phạm Công D có nhu cầu sử dụng ma túy nên gọi điện hỏi người bạn tên P (không rõ lai lịch) để mua ma túy. Sau đó D mang ma túy về phòng trọ số 14, nhà trọ ông Nguyễn S thuộc tổ 3 khu phố 5, thị trấn A, huyện V do D thuê cất giữ. Đến 10 giờ 30 phút ngày 24/11/2019, Công an thị trấn A, huyện V kết hợp với tổ bảo vệ dân phố kiểm tra hành chính phòng trọ của D phát hiện tại vị trí góc bàn đặt bếp ga nấu ăn có 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu "JET" đựng 09 bịch nylon trong suốt đã được hàn kín, bên trong bịch nylon có chứa tinh thể màu trắng. Tại Kết luận giám định số 1532/KLGĐ-PC09 ngày 29/11/2019 của Giám định viên Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng: 1,3624 gam, loại: Methamphetamine. Mẫu vật còn lại sau giám định là 1,3223 gam được niêm phong số 1532/PC09-GĐMT. Bị cáo đồng ý với bản kết luận trên và không có ý kiến gì thêm.

Như vậy, đã có đủ cơ sở xác định bị cáo Phạm Công D đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện V đã truy tố.

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, biết ma túy là chất gây nghiện được Nhà nước độc quyền quản lý về việc cất giữ, vận chuyển cũng như mua bán các loại chất này. Tuy nhiên, bản thân muốn sử dụng ma túy nên bị cáo đã mua về sử dụng và cất giữ. Hành vi của bị cáo không những xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất gây nghiện của Nhà nước mà kéo theo nhiều tệ nạn xã hội khác. Chính vì vậy, cần phải có mức hình phạt tương xứng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện nhằm cải tạo, răn đe đối với bị cáo cũng như phòng ngừa tội phạm nói chung.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 (Một) phong bì niêm phong mẫu vật sau giám định ký hiệu số 1532/PC09-GĐMT; 01 cân tiểu ly điện tử.

Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên được chấp nhận.

Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 47; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; các Điều 106, 136, 327, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

1. Tuyên bố bị cáo Phạm Công D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Phạm Công D 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào trại chấp hành án, nhưng được trừ đi thời gian bị cáo đã bị tạm giữ từ ngày 24/11/2019 đến ngày 03/12/2019.

2. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 (Một) phong bì niêm phong mẫu vật còn lại sau giám định ký hiệu số 1532/PC09-GĐMT; 01 cân tiểu ly điện tử (Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 06/02/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện V, tỉnh Đồng Nai).

3. Về án phí: Buộc bị cáo Phạm Công D phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ