vanban.org

Bản án 15/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La Tuyên án 11/03/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh và hình phạt

Tuyên bố bị cáo Cà Văn Q phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy; Xử phạt bị cáo Cà Văn Q 36 ( ba mươi sáu ) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt được tính từ ngày 18/11/2019 ( là ngày bắt tạm giữ, tạm giam đối với bị cáo ). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Cà Văn Q - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THUẬN CHÂU
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2020/HS-ST.
Ngày: 11/3/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN CHÂU, TỈNH SƠN LA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lường Tiến Hải.

Các Hội thẩm nhân nhân:

1. Ông Lường Văn Duôi

2. Ông Hà Ngọc Phương

- Thư ký phiên toà: Ông Lường Văn Dục - Thư ký Toà án nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La tham gia phiên toà: Ông Hoàng Minh Quốc - Kiểm sát viên.

Ngày 11/3/2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thuận Châu mở phiên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 12/2020/HSST ngày 13/02/2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2020/QĐXXST-HS ngày 18/02/2020 đối với bị cáo:

Cà Văn Q; Tên gọi khác: Không; Sinh năm: 1988 tại xã M, huyện Mường La, tỉnh Sơn La; Nơi cư trú: Bản H, xã M, huyện Mường La, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Thái; Giới tính : Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch : Việt Nam; Con ông : Cà Văn L sinh năm 1970 và bà Lò Thị L, sinh năm 1972; Bị cáo có vợ: Lèo Thị M, sinh năm: 1999 và 01 con 5 tuổi; Tiền sự : Không; Tiền án : Không; Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/11/2019 đến nay, có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 22 giờ 30 phút ngày 18/11/2019 tổ công tác Công an huyện Thuận Châu làm nhiệm vụ tại khu vực bản P, xã B, huyện Thuận Châu phát hiện và bắt quả tang Cà Văn Q có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ gồm: 01 gói nilon màu xanh bên trong có chứa một ít chất cục bột cục màu trắng nghi là Heroine (theo Cà Văn Q khai là Heroine) và 02 viên nén hình trụ màu hồng nghi là ma túy tổng hợp(theo Cà Văn Q khai là Heroine và ma túy tổng hợp ); Một vỏ bao thuốc lá WHITE HOUSE màu vàng bên trong có 02 điếu thuốc lá; Một xe máy nhãn hiệu SANDA, loại xe WAVEα biển kiểm soát 98H6 – 6527.

Hồi 8 giờ ngày 19/11/2019 tại phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La đã tiến hành bóc mở niêm phong cân tịnh số bột màu trắng và 02 viên nén hình trụ màu hồng thu giữ của Cà Văn Q. Cân số bột màu trắng có khối lượng 2,25 gam, trích rút toàn bộ 2,25 gam ký hiệu Q1 gửi giám định chất và loại ma túy. Cân tịnh 02 viên nén hình trụ màu hồng được tổng khối lượng 0,21 gam, trích rút 01 viên nén hình trụ màu hồng có khối lượng 0,10 gam ký hiệu Q2 gửi giám định chất và loại ma túy, còn lại 01 viên nén hình trụ màu hồng có khối lượng 0,11 gam ký hiệu Q3 niêm phong kho vật chứng.

Tại kết luận giám định số 1678/KLMT ngày 22/11/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: Mẫu gửi giám định ký hiệu Q1 là chất ma túy, loại chất Heroine, khối lượng của mẫu vật gửi giám định là 2,25 gam; Mẫu gửi giám định ký hiệu Q2 là chất ma túy, loại chất Methamphetamine; Tổng khối lượng chất ma túy thu giữ là 2,46 gam loại Heroine và loại Methamphetamine.

Tại Cơ quan CSĐT Công an huyện Thuận Châu, Cà Văn Q đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như sau:

Khoảng 19 giờ ngày 18/11/2019, Cà Văn Q một mình điều khiển xe máy mang BKS: 98H6- 6527 đi từ nhà ở bản H, xã M, huyện Mường La đến xã T, huyện Thuận Châu để mua ma túy về sử dụng. Khi đi đến bản Li, xã T thì Q gặp và hỏi mua được của một người phụ nữ dân tộc Thái (Q không biết tên và địa chỉ cư trú) đang đứng ở bên đường 01 ít Heroine và 02 viên ma túy tổng hợp được gói bằng nilon màu xanh với giá 1.000.000đ. Sau khi mua được ma túy, Q cất gói ma túy vào trong bao thuốc lá WHITE HOUSE để vào túi áo khoác đằng trước bên trái đang mặc rồi điều khiển xe máy đi về nhà. Khi Q đi đến bản P, xã B thì bị Tổ công tác Công an huyện Thuận Châu yêu cầu dừng xe kiểm tra ma túy, quá trình kiểm tra Tổ công tác đã phát hiện gói ma túy Q đang cất giấu và thu giữ vật chứng như đã nêu trên. Sau đó Tổ công tác đã đưa Q về trụ sở UBND xã B, huyện Thuận Châu để lập biên bản bắt giữ người có hành vi phạm tội quả tang và đã được dẫn giải về Công an huyện Thuận Châu xử lý theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, lời khai, lời trình bày ý kiến của bị cáo phù hợp với nội dung bản cáo trạng và các tài liệu khác trong hồ sơ vụ án như: biên bản hỏi cung bị can; biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản thu giữ, niêm phong, mở niêm phong vật chứng của vụ án để lấy mẫu giám định; kết luận giám định.

Bản cáo trạng số 12/CT-VKSTC ngày 12/02/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La đề nghị truy tố Cà Văn Q về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Châu giữ quyền công tố luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố đối với Cà Văn Q về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Cà Văn Q phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý.

Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo. Đề nghị xử phạt bị cáo Cà Văn Q mức án từ 36 đến 42 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt được tính từ ngày 18/11/2019 ( là ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam đối với bị cáo).

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền được quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS tuyên:

Tịch thu tiêu hủy chất ma túy, loại chất Heroine có khối lượng 2,05 gam, ký hiệu Q1 được niêm phong trong phong bì thư. Chất ma túy, loại chất Methamphetamine có khối lượng 0,11 gam và một vỏ bao thuốc lá WHITE HOUSE màu vàng bên trong có 02 điếu thuốc lá.

Tịch thu nộp Ngân sách nhà nước 01 xe máy nhãn hiệu SANDA, loại xe WAVEα biển kiểm soát 98H6 - 6527 của bị cáo Cà Văn Q.

Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Cà Văn Q phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).

Lời nói sau cùng của bị cáo Cà Văn Q: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về hòa nhập với cộng đồng, bị cáo xin được miễn hình phạt bổ sung.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Xét hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, loại chất Heroine có khối lượng 2,25 gam và chất ma túy, loại chất Methamphetamine có khối lượng 0,21 gam của bị cáo Cà Văn Q nhằm mục đích sử dụng cho bản thân là vi phạm pháp luật. Căn cứ Điều 4 Nghị định số 19/2018/NĐ-CP, ngày 02/02/2018 của Chính phủ thì tổng khối lượng chất ma túy của Cà Văn Q là 2,25 gam nhằm mục đích sử dụng cho bản thân là vi phạm pháp luật. Bởi bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự để nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là hành vi nguy hiểm cho xã hội, bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự như quan điểm truy tố và luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La.

Tại điểm i, khoản 1 Điều 249 BLHS quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a)………………………….

i) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng số lượng của các chất đó tương đương với số lượng chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm b đến điểm h khoản này.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”

Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của nhà nước về các chất ma tuý và là nguyên nhân làm gia tăng những tệ nạn xã hội và tội phạm hình sự, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự an toàn xã hội và an ninh quốc gia. Do đó cần áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249 BLHS có mức hình phạt từ 01 đến 05 năm đối với bị cáo Cà Văn Q.

Xét nhân thân bị cáo là người chưa có tiền án, tiền sự. Bị cáo biết rõ tác hại của ma túy nhưng vẫn phạm tội nên cần có mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo mới đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật trong việc đấu tranh với các tệ nạn ma túy. Cần cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian mới đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo để trở thành người công dân tốt, có ích cho xã hội.

Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo tàng trữ lượng ma túy không lớn, mục đích chỉ để sử dụng cho bản thân; Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã ăn năn hối cải, thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.

Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

Đối với hình phạt bổ sung được quy định tại khoản 5 Điều 249 BLHS. Xét thấy bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có tài sản, sống chủ yếu dựa vào nông nghiệp không có khả năng thi hành nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Thuận Châu Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Vật chứng vụ án:

Đối với Heroine có khối lượng 2,05 gam và Methamphetamine có khối lượng 0,11 gam và một vỏ bao thuốc lá WHITE HOUSE màu vàng bên trong có 02 điếu thuốc lá cần vận dụng điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS tuyên tịch thu tiêu hủy. Đối với 01 xe máy nhãn hiệu SANDA, loại xe WAVEα biển kiểm soát 98H6 – 6527 của bị cáo Cà Văn Q là phương tiện của bị cáo dùng vào việc phạm tội cần vận dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS tuyên tịch thu Ngân sách nhà nước.

Đối với người phụ nữ tại bản L, xã T, huyện Thuận Châu theo Cà Văn Q khai là người đã đã bán ma túy cho bị cáo vào ngày 18/11/2019 nhưng do bị cáo không biết tên, địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ điều tra xử lý.

Bị cáo đang bị tạm giam, cần tiếp tục giam giữ bị cáo trong hạn 45 ngày, kể từ ngày tuyên án theo quy định tại khoản 1, 3 Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án của mình theo quy định tại các Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh và hình phạt

Căn cứ vào điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; khoản 1, 3 Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tuyên bố bị cáo Cà Văn Q phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy;

Xử phạt bị cáo Cà Văn Q 36 ( ba mươi sáu ) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt được tính từ ngày 18/11/2019 ( là ngày bắt tạm giữ, tạm giam đối với bị cáo ).

Tiếp tục giam giữ bị cáo Cà Văn Q trong hạn 45 ngày, kể từ ngày tuyên án.

2. Về vật chứng: Căn cứ vào điểm a, c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS tuyên:

- Tịch thu tiêu hủy :

+ Một phong bì thư có viền màu xanh đỏ, ngoài ghi: vật chứng nhập kho vụ Cà Văn Q – Tàng trữ trái phép chất ma túy, bắt ngày 18/11/2019, mặt sau đán giấy niêm phong, trên mặt giấy niêm phong có đầy đủ chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong, có ba dấu đỏ của Cơ quan CSĐT Công an huyện Thuận Châu: Một mảnh ni lon màu xanh + 0,11 gam chất ma túy loại Methamphetamine + một vỏ phong bì đã bóc mở niêm phong vật chứng ban đầu.

+ Một vỏ bao thuốc lá WHITE HOUSE, màu vàng đã bóc mở, bên trong có 2 điếu thuốc lá.

+ Một phong bì công văn của Phòng giám định KTHS Công an tỉnh Sơn La được dán giấy niêm phong có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong và hai dấu đỏ của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, mặt trước ghi: Mẫu giám định còn lại vụ Cà Văn Q – Tàng trữ trái phép chất ma túy, xảy ra ngày 18/11/2019 tại Bon Phặng, Thuận Châu, Sơn La: Một vỏ phong bì niêm phong cũ + mẫu giám định Q1 còn lại sau giám định có khối lượng 2,05 gam chất ma túy, loại chất heroine.

- Tịch thu nộp Ngân sách nhà nước Một chiếc xe máy hiệu SANDA, loại xe WAVEα, mang BKS: 98H6-6527, số khung không xác định, số máy: SM003993, màu sơn xanh, xe đã qua sử dụng của bị cáo Cà Văn Q.

3. Án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án : Bị cáo Cà Văn Q phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

4. Quyền kháng cáo

Căn cứ vào Điều 331, 333 BLTTHS : Bị cáo Cà Văn Q được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ