vanban.org

Bản án 15/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh Tuyên án 10/06/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Đào Đình T (Tý C) phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. 01 (một) bì thư niêm phong ghi vụ số 40/KL-KTHS (gói 1) có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Văn Nguyện và trợ lý giám định Lê Đức Trọng thuộc Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đào Đình T phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy" - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đào Đình T (Tý C) phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN DƯƠNG MINH CHÂU
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2020/HS-ST
Ngày: 10-6-2020.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DƯƠNG MINH CHÂU, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thơ

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Kim Đào;

2. Bà Đào Thị Lan.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Quốc Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân Huyện Dương Minh Châu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện Dương Minh Châu tham gia phiên tòa: Bà Mai Thị Diệu Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 6 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 09/2020/TLST-HS ngày 01 tháng 4 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2020/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 5 năm 2020 đối với bị cáo:

Đào Đình T (Tý C), sinh năm 1996; tại: tỉnh Tây Ninh; nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Ấp 1, xã B, Huyện D, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Không có; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đào Văn Th (đã chết) và bà Võ Thị C; bị cáo có vợ và 01 người con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 08-01-2020 đến ngày 17-01-2020, bị tạm giam từ ngày 17-01-2020 đến nay.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đào Đình T là đối tượng nghiện ma túy. Để có tiền tiêu xài và mua chất ma túy để sử dụng nên từ đầu tháng 7-2019, Trọng thường xuyên đến khu vực huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh mua chất ma túy người tên L (không rõ họ tên, địa chỉ), mỗi lần mua với số tiền thấp nhất là 1.000.000 đồng, cao nhất là 6.000.000 đồng. Sau đó, T đem về phân chia nhỏ để bán lại cho người nghiện ma túy trên địa bàn, cụ thể như sau:

Vào khoảng đầu tháng 12-2019, T đến khu vực huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh mua của L 01 bịch chất ma túy với số tiền 6.000.000 đồng. Sau đó, T đem ma túy về nhà tại khu vực ấp 1, xã B, Huyện D, tỉnh Tây Ninh phân chia thành 09 bịch nhỏ, mỗi bịch ma túy bán với giá tiền từ 500.000 đồng đến 1.800.000 đồng.

Đến khoảng 13 giờ 30 phút ngày 08-01-2020, Bùi Nhật Tr gọi vào số điện thoại 0339.969.446 của T hỏi mua chất ma túy với số tiền 500.000 đồng thì T đồng ý bán và hẹn giao ma túy tại nhà T. Cùng lúc, T gọi cho Trà Ngọc Th đến nhà T để hướng dẫn sử dụng máy hàn gió đá để hàn kim loại thì Th đồng ý nên đến nhà T nhưng khi mở máy hàn thì máy bị hư không hàn được nên T và Th đi vào nhà T sử dụng chất ma túy. Th gọi điện thoại cho Phan Thanh H để nhờ hữu mua dùm hai card điện thoại mệnh giá 50.000 đồng đem đến nhà T. Khoảng 13 giờ cùng ngày, H đến nhà T và đưa cho Th hai cạc điện thoại, thấy T và Th đang sử dụng ma túy nên H xin vào sử dụng chung; T, Th và H cùng sử dụng chất ma túy tại nhà của T.

Đến 15 giờ 20 phút cùng ngày, Bùi Nhật Tr điều khiển xe mô tô biển số 51T-8057 đến nhà Đào Đình T để mua ma túy. T thấy Tr đến nên lấy 01 bịch ma túy ra bán và nhận số tiền 500.000 đồng thì bị Công an huyện Dương Minh Châu bắt quả tang. Tiến hành khám xét chỗ ở của T, Công an huyện Dương Minh Châu thu giữ các vật chứng có liên quan.

Ngoài ra, Đào Đình T còn trái phép bán chất ma túy cho Bùi Nhật Tr vào ngày 07-01-2020 tại khu vực ấp 1, xã B, Huyện D, tỉnh Tây Ninh với số tiền 1.800.000 đồng.

* Kết luận giám định số 40 ngày 13/01/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự-Công an tỉnh Tây Ninh kết luận:

- Khối lượng chất ma túy, loại Methamphetamine thu giữ bên trong túi quần sọt phía sau, bên phải của Đào Đình T là 1,6469 gam.

- Khối lượng chất ma túy, loại Methamphetamine thu giữ bên trong nón màu đen của Bùi Nhật Tr là 0,0252 gam.

- Khối lượng chất ma túy, loại Methamphetamine thu giữ bên trong nhà ở của Đào Đình T là 11,19 gam.

* Vật chứng thu giữ:

- 01 (một) bì thư niêm phong ghi vụ số 40/KL-KTHS (gói 1) có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Văn Nguyện và trợ lý giám định Lê Đức Trọng thuộc Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh.

- 01 (một) bì thư niêm phong ghi vụ số 40/KL-KTHS (gói 3) có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Văn Nguyện và trợ lý giám định Lê Đức Trọng thuộc Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh.

- 01 (một) bì thư niêm phong ghi vụ số 40/KL-KTHS (gói 4) có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Văn Nguyện và trợ lý giám định Lê Đức Trọng thuộc Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh.

- 01 (một) bì thư niêm phong ghi vụ số 40/KL-KTHS (gói 5) có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Văn Nguyện và trợ lý giám định Lê Đức Trọng thuộc Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh.

- 01 (một) bì thư niêm phong ghi vụ số 40/KL-KTHS (gói 6) có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Văn Nguyện và trợ lý giám định Lê Đức Trọng thuộc Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh.

- 01 (một) bì thư niêm phong ghi vụ số 40/KL-KTHS (gói 7) có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Văn Nguyện và trợ lý giám định Lê Đức Trọng thuộc Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh.

- Tiền Việt Nam: 3.900.000 đồng;

- 01 (một) điện thoại di động hiệu ViVo (đã qua sử dụng, không kiểm tra được số IMEI máy);

- 01 (một) roi điện màu đen, bằng kim loại;

- 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy, gồm: 01 (một) bình thủy tinh; 01 (một) ống hút; 01 (một) cái nỏ bằng thủy tinh;

- 01 (một) cây đao tự chế, lưỡi đao bằng kim loại, cán đao bằng gỗ;

- 70 (bảy mươi) ống thủy tinh màu trắng, hình trụ tròn;

- 75 (bảy mươi lăm) cái ống hút bằng nhựa;

- 325 (ba trăm hai mươi lăm) bịch nylon màu trắng, bịt kín 3 đầu, một đầu kéo;

- 16 (mười sáu) bình gas hiệu Namilux;

- 01 (một) cây kiếm, lưỡi kiếm bằng kim loại, cán kiếm bằng gỗ;

- 01 (một) cân tiểu ly;

- 01 (một) xe mô tô hiệu Winer biển số 70E1 – 359.56, số khung LHKC2603GY056142, số máy KC26E90368.

* Kê biên tài sản: Đào Đình T không có tài sản riêng nên không tiến hành kê biên.

* Quá trình điều tra, Đào Đình T khai nhận đã mua ma túy của người tên L tại khu vực huyện H, thành phố Hồ Chí Minh. Tuy nhiên qua làm việc, không xác định được nhân thân và địa chỉ nên không đề cập xử lý.

* Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Đào Đình T, Bùi Nhật Tr, Trà Ngọc Th và Phan Thanh H, Công an huyện Dương Minh Châu ra quyết định xử phạt hành chính mỗi người 750.000 đồng.

Tại Cáo trạng số 12/CT-VKS-DMC ngày 31 tháng 3 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân Huyện Dương Minh Châu đã truy tố bị cáo Đào Đình T tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b, i khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự.

* Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện Dương Minh Châu giữ nguyên cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Đào Đình T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”

- Áp dụng điểm b, i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Đào Đình T mức án từ 10 (mười) đến 12 (mười hai) năm tù;

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị:

+ Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước tiền thu lợi bất chính: 2.300.000 đồng từ việc bán trái phép chất ma túy.

+ Trả cho bị cáo tiền và phương tiện không sử dụng vào việc phạm tội: 1.600.000 đồng tiền Việt Nam; 01 (một) xe mô tô hiệu Winer biển số 70E1 – 359.56, số khung LHKC2603GY056142, số máy KC26E90368.

+ Tiêu hủy các vật chứng là ma túy, công cụ phương tiện dùng vào việc phạm tội, vũ khí nguy hiểm, vật chứng không có giá trị sử dụng.

- Bị cáo Đào Đình T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, bị cáo không có ý kiến tranh luận gì. Lời nói sau cùng bị cáo: Bị cáo không nói lời sau cùng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tính hợp pháp của hành vi, Quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Huyện Dương Minh Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có khiếu nại về hành vi, Quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Vào ngày 07-01-2020, tại thuộc khu vực ấp 1, xã B, Huyện D, tỉnh Tây Ninh, Đào Đình T đã có hành vi bán trái phép chất ma túy cho Bùi Nhật Tr. Tiếp tục ngày 08-01-2020, khi T đang bán ma túy cho Tr lần thứ hai thì bị bắt quả tang; xác định chất ma túy mà T mua bán có tên gọi là Methamphetamine với khối lượng 12,8621 gam. Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với những tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, nên có đủ cơ sở kết luận bị cáo Đào Đình T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điều 251 của Bộ luật hình sự. Bị cáo có hành vi bán ma túy hai lần, tổng khối lượng bị cáo mua bán là 12,8621 gam nên bị cáo phải chịu tình tiết định khung theo quy định tại điểm b, i khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự.

Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội: Bị cáo là người nghiện ma túy, để có tiền sử dụng ma túy, bị cáo đã mua để bán lại cho người khác nhằm thu lợi bất chính. Bị cáo có đầy đủ năng lực hành vi và nhận thức. Hành vi của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý Nhà nước về chất ma túy; trực tiếp làm gia tăng tệ nạn mua bán và sử dụng ma túy trong cộng đồng, là nguồn phát sinh các tội phạm khác. Do đó cần áp dụng mức hình phạt thật nghiêm, tương xứng với hành vi của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian dài mới đủ đảm bảo tính răn đe, cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội và để phòng ngừa tội phạm chung.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo khi quyết định hình phạt.

Xử lý vật chứng:

- Tiêu hủy các vật chứng là ma túy, công cụ phương tiện dùng vào việc phạm tội, vũ khí nguy hiểm, vật chứng không có giá trị sử dụng, gồm:

+ 01 (một) bì thư niêm phong ghi vụ số 40/KL-KTHS (gói 1) có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Văn Nguyện và trợ lý giám định Lê Đức Trọng thuộc Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh.

+ 01 (một) bì thư niêm phong ghi vụ số 40/KL-KTHS (gói 3) có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Văn Nguyện và trợ lý giám định Lê Đức Trọng thuộc Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh.

+ 01 (một) bì thư niêm phong ghi vụ số 40/KL-KTHS (gói 4) có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Văn Nguyện và trợ lý giám định Lê Đức Trọng thuộc Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh.

+ 01 (một) bì thư niêm phong ghi vụ số 40/KL-KTHS (gói 5) có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Văn Nguyện và trợ lý giám định Lê Đức Trọng thuộc Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh.

+ 01 (một) bì thư niêm phong ghi vụ số 40/KL-KTHS (gói 6) có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Văn Nguyện và trợ lý giám định Lê Đức Trọng thuộc Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh.

+ 01 (một) bì thư niêm phong ghi vụ số 40/KL-KTHS (gói 7) có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Văn Nguyện và trợ lý giám định Lê Đức Trọng thuộc Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh.

+ 01 (một) roi điện màu đen, bằng kim loại;

+ 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy, gồm: 01 (một) bình thủy tinh; 01 (một) ống hút; 01 (một) cái nỏ bằng thủy tinh;

+ 01 (một) cây đao tự chế, lưỡi đao bằng kim loại, cán đao bằng gỗ;

+ 70 (bảy mươi) ống thủy tinh màu trắng, hình trụ tròn;

+ 75 (bảy mươi lăm) cái ống hút bằng nhựa;

+ 325 (ba trăm hai mươi lăm) bịch nylon màu trắng, bịt kín 3 đầu, một đầu kéo;

+ 16 (mười sáu) bình gas hiệu Namilux;

+ 01 (một) cây kiếm, lưỡi kiếm bằng kim loại, cán kiếm bằng gỗ;

+ 01 (một) cân tiểu ly.

- Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước tiền thu lợi bất chính từ việc bán ma túy và phương tiện dùng để liên lạc mua bán chất ma túy: 2.300.000 đồng tiền Việt Nam; 01 (một) điện thoại di động hiệu ViVo (đã qua sử dụng, không kiểm tra được số IMEI máy).

- Trả cho bị cáo tiền và tài sản không liên quan đến việc phạm tội: 1.600.000 đồng tiền Việt Nam; 01 (một) xe mô tô hiệu Winer biển số 70E1 – 359.56, số khung LHKC2603GY056142, số máy KC26E90368.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có khả năng thi hành nên không áp dụng hình phạt bổ sung.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Đào Đình T (Tý C) phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm b, i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Đào Đình T 10 (mười) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 08-01-2020.

2. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tiêu hủy:

+ 01 (một) bì thư niêm phong ghi vụ số 40/KL-KTHS (gói 1) có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Văn Nguyện và trợ lý giám định Lê Đức Trọng thuộc Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh.

+ 01 (một) bì thư niêm phong ghi vụ số 40/KL-KTHS (gói 3) có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Văn Nguyện và trợ lý giám định Lê Đức Trọng thuộc Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh.

+ 01 (một) bì thư niêm phong ghi vụ số 40/KL-KTHS (gói 4) có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Văn Nguyện và trợ lý giám định Lê Đức Trọng thuộc Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh.

+ 01 (một) bì thư niêm phong ghi vụ số 40/KL-KTHS (gói 5) có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Văn Nguyện và trợ lý giám định Lê Đức Trọng thuộc Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh.

+ 01 (một) bì thư niêm phong ghi vụ số 40/KL-KTHS (gói 6) có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Văn Nguyện và trợ lý giám định Lê Đức Trọng thuộc Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh.

+ 01 (một) bì thư niêm phong ghi vụ số 40/KL-KTHS (gói 7) có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Văn Nguyện và trợ lý giám định Lê Đức Trọng thuộc Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh.

+ 01 (một) roi điện màu đen, bằng kim loại;

+ 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy, gồm: 01 (một) bình thủy tinh; 01 (một) ống hút; 01 (một) cái nỏ bằng thủy tinh;

+ 01 (một) cây đao tự chế, lưỡi đao bằng kim loại, cán đao bằng gỗ;

+ 70 (bảy mươi) ống thủy tinh màu trắng, hình trụ tròn;

+ 75 (bảy mươi lăm) cái ống hút bằng nhựa;

+ 325 (ba trăm hai mươi lăm) bịch nylon mày trắng, bịt kín 3 đầu, một đầu kéo;

+ 16 (mười sáu) bình gas hiệu Namilux;

+ 01 (một) cây kiếm, lưỡi kiếm bằng kim loại, cán kiếm bằng gỗ;

+ 01 (một) cân tiểu ly;

+ 01 (một) bình xịt hơi cay hiệu NATO;

+ 02 (hai) đầu khò gas;

+ 01 (một) gậy đánh bóng chày màu đen, bằng kim loại;

+ 02 (hai) nỏ bằng thủy tinh.

- Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước: 2.300.000 đồng tiền Việt Nam; 01 (một) điện thoại di động hiệu ViVo (đã qua sử dụng, không kiểm tra được số IMEI máy).

- Trả cho bị cáo: 1.600.000 đồng tiền Việt Nam; 01 (một) xe mô tô hiệu Winer biển số 70E1 – 359.56, số khung LHKC2603GY056142, số máy KC26E90368.

(Các vật chứng hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự Huyện Dương Minh Châu, cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án)

3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Bị cáo Đào Đình T phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Ðiều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Ðiều 30 Luật Thi hành án dân sự.

5. Bị cáo được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ