vanban.org

Bản án 15/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh Tuyên án 11/06/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Huỳnh H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Huỳnh H 05 (năm) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt đi chấp hành án. Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "bị cáo Huỳnh H bi truy to ve toi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Huỳnh H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN C
TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2020/HS-ST
Ngày 08 - 6 - 2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH TRÀ VINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Mỹ Ai

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Quốc Tuấn

Bà TRần Thị Thúy Phượng

- Thư ký phiên tòa: Bà Lưu Thị Nhàn, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Cầu Kè tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hoài Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 6 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 08/2020/TLST-HS ngày 10 tháng 3 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2020/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 5 năm 2020 đối với bị cáo:

Họ và tên: Huỳnh H, sinh năm 1945 tại Trung Quốc. Nơi cư trú: Số A, L, Phường B, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: Không biết chữ; dân tộc: Hoa; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Diệp T (đã chết) và bà Huỳnh T1 (đã chết); vợ là Bùi Thị H1, sinh năm 1958 và có hai người con, lớn nhất sinh năm 1984 và nhỏ nhất sinh năm 1986; tiền sự: Không có; tiền án: Không có; bị cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 10/10/2019 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người làm chứng:

Bà Thạch Thị Chanh Sô P, sinh năm 1991 (vắng mặt).

Địa chỉ: Khóm D, thị trấn C1, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào ngày 10 tháng 6 năm 2019, bị cáo Huỳnh H, một mình đi xe khách Kim Hoàng để về thị trấn C1, huyện C, tỉnh Trà Vinh tìm người quen. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, bị cáo về đến thị trấn C1, huyện C nhưng không tìm được người quen. Sau đó, bị cáo đi lang thang trong thị trấn C1, huyện C. Khoảng 17 giờ ngày 11 tháng 6 năm 2019, bị cáo ghé vào nhà bà Thạch Thị Chanh Sô P để nghỉ ngơi. Sau đó, lực L Công an đến kiểm tra phát hiện bị cáo đang tàng trữ trên người nhiều túi (bịch) nhựa, có chứa tinh thể dạng rắn và chất bột màu trắng nghi là chất ma túy nên tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ và niêm phong 09 (chín) túi nhựa đã được hàng kín hai đầu, bên trong mỗi túi nhựa có chứa tinh thể dạng rắn nghi là chất ma túy; 01 túi nhựa được hàng kín hai đầu bên trong có chứa 04 (bốn) túi nhựa chứa chất bột màu trắng nghi là chất ma túy; 01 (một) túi nhựa được buộc kín lại bằng dây thun màu vàng, bên trong túi nhựa có chứa chất bột màu trắng nghi là ma túy; 01 chai nhựa màu trắng; 05 (năm) ống thủy tinh; 03 (ba) quẹt gas cùng số tiền 49.103.000 đồng.

Ngày 12 tháng 6 năm 2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C ra Quyết định trưng cầu giám định chất nghi là ma túy đã thu giữ trên người của bị cáo Huỳnh H có phải là chất ma túy không, nếu có thì là chất ma túy gì và khối L bao nhiêu. Kết luận giám định số: 336/KLGĐ-PC09 ngày 13 tháng 6 năm 2019 của Phòng kỷ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Long kết luận: Mẫu tinh thể rắn màu trắng bên trong 09 (chín) túi nhựa được niêm phong trong phong bì (ký hiệu A1) gửi giám định là ma túy, có khối L 3,3045 gam, loại Methamphetamine. Mẫu tinh thể rắn màu trắng bên trong 04 (bốn) túi nhựa và 01 (một) túi nhựa được buộc kín lại bằng dây thun màu vàng được niêm phong trong phong bì (ký hiệu A2) gửi giám định là ma túy, có khối L 24,4703 gam, loại Heroine. Tổng trọng L chất ma túy được niêm phong gửi giám định là 27,7748 gam.

Ngày 16 tháng 7 năm 2019, Huỳnh Hoa L là con ruột của bị cáo Huỳnh H, có đơn yêu cầu cho bị cáo Huỳnh H được giám định tâm thần. Ngày 24 tháng 7 năm 2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C ra Quyết định trưng cầu giám định tình trạng tâm thần của bị cáo Huỳnh H. Ngày 23 tháng 8 năm 2019, Viện Pháp y tâm thần Trung ương Biên Hòa có Kết luận giám định pháp y tâm thần số: 469/KL-VPYTW đối với bị cáo Huỳnh H.

- Về y học: Trước, trong, sau khi gây án và hiện nay đương sự không có bệnh tâm thần.

- Về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi: Tại thời điểm gây án và hiện nay đương sự đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi.

Quá trình điều tra bị cáo Huỳnh H khai nhận mua ma túy của một người phụ nữ tên M (bị cáo Huỳnh H chỉ biết tên chứ không rõ địa chỉ cụ thể) tại đường Bùi Viện, phường Phạm Ngũ Lão, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh, bị cáo không nhớ cụ thể mua bao nhiêu tiền. Mục đích bị cáo mua số ma túy trên để cất giữ và sử dụng dần. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C tiến hành xác minh nhưng không xác định được người phụ nữ tên M nên không thể tiến hành làm việc và xử lý được.

Về vật chứng: Đối với 01 (một) bao thư đã được niêm phong ký hiệu A1, ngày 13 tháng 6 năm 2019. Có chữ ký xác nhận của giám định viên Nguyễn Hữu Dự và cán bộ Phạm Hoàng Nhã, có đóng dấu tròn của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Vĩnh Long (qua giám định là ma túy, có khối L 3,3045 gam, loại Methamphetamine) và 01 (một) bao thư đã được niêm phong ký hiệu A2, ngày 13 tháng 6 năm 2019. Có chữ ký xác nhận của giám định viên Nguyễn Hữu Dự và cán bộ Phạm Hoàng Nhã, có đóng dấu tròn của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Vĩnh Long (qua giám định là ma túy, có khối L 24,4703 gam, loại Heroine); 01 (một) chai nhựa màu trắng, 05 (năm) ống thủy tinh và 03 (ba) quẹt gas.

Đối với số tiền: 49.103.000đông là tài sản riêng của bị cáo, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trao trả cho bị cáo Huỳnh H.

Tại bản cáo trạng số: 08/CT-VKS-HS ngày 10/3/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Trà Vinh đã truy tố bị cáo Huỳnh H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa hôm nay, vị Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo, sau khi phân tích các chứng cứ buộc tội đối với bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo như: sau khi phạm tội, bị cáo Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo là người đủ 70 tuổi trở lên; vị Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g, khoản 2 Điều 249; điểm s,o khoản 1, Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Huỳnh H từ 05 đến 06 năm tù. Ngoài ra, vị Kiểm sát viên còn đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết về vật chứng, án phí theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Huỳnh H thừa nhận những hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh truy tố cũng như lời luận tội của vị Kiểm sát viên. Lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Xét Hành vi của bị cáo Huỳnh H, tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân huyện C đã truy tố cũng như lời luận tội của vị Kiểm sát viên. Lời khai này của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản khám nghiệm hiện trường, bản kết luận giám định, biên bản thu giữ vật chứng và những tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 17 giờ 10 phút ngày 11 tháng 6 năm 2019, tại nhà bà Thạch Thị Chanh Sô P, cư trú khóm D, thị trấn C1, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C bắt quả tang bị cáo Huỳnh H đang tàng trữ nhiều túi nhựa có chứa tinh thể dạng rắn và chất bột màu trắng trên người, nghi là chất ma túy nên tiến hành thu giữ. Kết luận giám định xác định những túi nhựa có chứa tinh thể dạng rắn và chất bột màu trắng thu giữ trên người bị cáo Huỳnh H là chất ma túy gồm Methamphetamine và Heroin có tổng khối L 27,7748g (hai mươi bảy phẩy bảy bảy bốn tám gam).

Hành vi trên của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm phạm đến sự độc quyền quản lý của nhà nước về các chất ma túy mà còn xâm phạm đến trật tự, an toàn xã hội. Bị cáo là người trưởng Thành có đủ sức khỏe và nhận thức đầy đủ về tác hại của chất ma túy nhưng vẫn bất chấp pháp luật mà dẫn đến phạm tội. Xét về nhân thân của bị cáo thì ngày 29/7/2005 bị cáo H đã bị Tòa án nhân dân Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 (hai năm tù) về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 194 của Bộ luật hình sự năm 1999. Thời hạn tù tính từ ngày 08/4/2006. Bị cáo H đã chấp Hành án xong và được cấp giấy chứng nhận chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 06/10/2006. Tuy hành vi trên đã được xóa án tích nhưng sau đó bị cáo lại tiếp tục phạm tội nên xét về nhân thân thì bị cáo có nhân thân xấu. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần xử phạt bị cáo một mức hình phạt phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo, nên buộc bị cáo chấp hành hình phạt tù một thời gian để có điều kiện cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành người công dân tốt, có lợi cho gia đình và có ích cho xã hội.

Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử cũng xem xét đến những tình tiết giảm nhẹ cho các bị cáo như: Bị cáo sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; người phạm tội là người đủ 70 tuổi trở lên; những tình tiết giảm nhẹ này được quy định tại điểm o, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Về vật chứng: Đối với 01 (một) bao thư đã được niêm phong ký hiệu A1, ngày 13 tháng 6 năm 2019. Có chữ ký xác nhận của giám định viên Nguyễn Hữu Dự và cán bộ Phạm Hoàng Nhã, có đóng dấu tròn của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Vĩnh Long (qua giám định là ma túy, có khối L 3,3045 gam, loại Methamphetamine); 01 (một) bao thư đã được niêm phong ký hiệu A2, ngày 13 tháng 6 năm 2019. Có chữ ký xác nhận của giám định viên Nguyễn Hữu Dự và cán bộ Phạm Hoàng Nhã, có đóng dấu tròn của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Vĩnh Long (qua giám định là ma túy, có khối L 24,4703 gam, loại Heroine); 01 (một) chai nhựa màu trắng, 05 (năm) ống thủy tinh và 03 (ba) quẹt gas nên tịch thu tiêu hủy.

Đối với số tiền 49.103.000đ là tài sản riêng của bị cáo nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trao trả cho bị cáo Huỳnh H nhận xong.

Xét Hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng: Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử đã thẩm tra các quyết định của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân; Hành vi của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố; xét thấy các quyết định của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân; Hành vi của Điều tra viên, Kiểm sát viên đều đúng quy định pháp luật, những người tham gia tố tụng không có khiếu nại hoặc có ý kiến nào khác phản đối nên các quyết định và Hành vi trên đều hợp pháp.

Xét bản luận tội của vị Kiểm sát viên kết luận bị cáo Huỳnh H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật, mức hình phạt mà vị Kiểm sát viên đề nghị là tương xứng với tính chất của vụ án nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Huỳnh H được án phí hình sự sơ thẩm thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Huỳnh H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 249; điểm o, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Bị cáo Huỳnh H 05 (năm) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt đi chấp hành án.

Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy đối với 01 (một) bao thư đã được niêm phong ký hiệu A1, ngày 13 tháng 6 năm 2019. Có chữ ký xác nhận của giám định viên Nguyễn Hữu Dự và cán bộ Phạm Hoàng Nhã, có đóng dấu tròn của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Vĩnh Long (qua giám định là ma túy, có khối L 3,3045 gam, loại Methamphetamine); 01 (một) bao thư đã được niêm phong ký hiệu A2, ngày 13 tháng 6 năm 2019. Có chữ ký xác nhận của giám định viên Nguyễn Hữu Dự và cán bộ Phạm Hoàng Nhã, có đóng dấu tròn của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Vĩnh Long (qua giám định là ma túy, có khối L 24,4703 gam, loại Heroine); 01 (một) chai nhựa màu trắng, 05 (năm) ống thủy tinh và 03 (ba) quẹt gas.

Đối với số tiền 49.103.000đồng (Bốn mươi chín triệu một trăm lẽ ba ngàn đồng) Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trao trả cho bị cáo Huỳnh H nhận xong.

Về án phí sơ thẩm: Áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Huỳnh H được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi Hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ