vanban.org

Bản án 15/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Cát Hải, TP. Hải Phòng Tuyên án 29/09/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, khoản 1 và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy toàn bộ số ma túy mà Cơ quan Giám định hoàn lại sau giám định; tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 xe máy hiệu Wave BKS 16L9-567…

Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm ng… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Hữu T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều c…"
  • Tòa quyết gì? Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, khoản 1 và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy toàn bộ số ma túy mà Cơ quan Giám định hoàn lại sau giám định; tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 xe máy hiệu Wave BKS 16L9-567…
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁT HẢI
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2020/HS-ST
Ngày 29-9-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁT HẢI, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Như Quỳnh

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Vũ Thị Lại

Ông Đỗ Văn Tân

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Quang Bảo - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Vũ Huy Tài - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 9 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 16/2020/TLST-HS ngày 15 tháng 9 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2020/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 9 năm 2020 đối với bị cáo:

Nguyễn Hữu T, sinh ngày 04 tháng 4 năm 1980 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn D, xã H, huyện C, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 4/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Hữu T và bà Phạm Thị H; có vợ là Nguyễn Thị L, có 02 con, con lớn sinh năm 2005, con nhỏ sinh năm 2007; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Năm 2011, cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm cai nghiện số 06 Cát Bi, Hải Phòng bị tạm giữ từ ngày 31-7-2020 đến ngày 06-8-2020 chuyển tạm giam; có mặt.

- Người làm chứng: Ông Đỗ Văn C; vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 31/7/2020, T điều khiển xe máy Wave BKS 16L9-5674 đi từ nhà tại thôn D, xã H, huyện C vào khu vực phường Cầu Tre, quận Ngô Quyền, Hải Phòng để mua ma túy về sử dụng. T gặp một người đàn ông không quen biết hỏi mua 02 gói ma túy Heroine với giá 150.000đ/gói; 03 gói ma túy đá với giá 200.000đ/gói và đứng đợi ở đó. Khoảng 20 phút sau, người đàn ông quay lại đưa cho T 05 gói ma túy, T trả hết 900.000 đồng và cho thêm người bán ma túy 20.000 đồng. T cầm số ma túy mua được ở tay trái và đi xe về, khi đến khu vực trục đường Tân Vũ - Lạch Huyện thuộc địa phận thôn Ninh Tiếp, xã Nghĩa Lộ thì bị tổ công tác Đồn Biên phòng Cát Hải phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng như nêu trên.

Về vật chứng vụ án: Đồn Biên phòng Cát Bà đã thu giữa toàn bộ số ma túy, và 01 xe máy Wave BKS 16L9-5674; 01 đăng ký xe số 0024596 mang tên Phạm Bá A.

Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Người làm chứng là ông Đỗ Văn C vắng mặt tại phiên tòa, tuy nhiên tại cơ quan điều tra đã khai: Vào khoảng 10 giờ 50 ngày 31-7-2020 ông đang chạy xe trên trục đường Tân Vũ - Lạch Huyện có chứng kiến lực lượng Đồn Biên Phòng Cát Hải kiểm tra một nam thanh niên tên là Nguyễn Hữu T và thu giữ 05 gói nilon màu trắng bên tay trái của T, bên trong túi áo có 2 túi nilon chứa ma túy Heroine, còn 03 túi nilon còn lại chứa ma túy đá, bị cáo khai là ma túy, mua về với mục đích để sử dụng.

Bản Kết luận giám định số 476/KLGĐ-MT ngày 31/7/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng kết luận: Chất bột màu trắng (mẫu M1) gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,20 gam, là loại Heroine. Tinh thể màu trắng (mẫu M2) gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,45 gam, là loại Methamphetamine.

Bản Cáo trạng số 16/CT-VKS ngày 14-9-2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cát Hải giữ quyền công tố và tranh luận hành vi phạm tội của bị cáo tàng trữ với mục đích để sử dụng; khối lượng tổng hai chất ma túy bị cáo tàng trữ 0,65 gam là loại Heroine và Methamphetamine. Như vậy hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Đại diện Viện kiểm sát phân tích tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo, tình tiết giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo từ 24 đến 30 tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng vụ án: Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư bên trong chứa ma túy hoàn lại sau giám định; tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 xe máy hiệu Wave BKS 16L9-5674 và 01 đăng ký xe số 0024596 mang tên Phạm Bá A.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận đồng thời thừa nhận luận tội của Viện kiểm sát về tội danh cũng như mức hình phạt là đúng. Bị cáo biết mình vi phạm pháp luật đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt, tạo điều kiện để bị cáo sớm trở về đoàn tụ với gia đình làm lại cuộc đời.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Đồn Biên phòng Cát Hải, Cơ quan điều tra Công an huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định của pháp luật.

Về chứng cứ: Bị cáo khai nhận bị cáo là người nghiện ma túy 08 giờ 30 phút ngày 31/7/2020, bị cáo điều khiển xe máy Wave BKS 16L9-5674 đi từ nhà tại thôn D, xã H, huyện Cát Hải vào khu vực phường Cầu Tre, quận Ngô Quyền, Hải Phòng để mua ma túy về sử dụng. Bị cáo mua của một người đàn ông không quen biết 02 gói ma túy Heroine với giá 150.000đ/gói; 03 gói ma túy đá với giá 200.000đ/gói. Khoảng 10 giờ 50 cùng ngày, bị cáo bị Đồn Biên phòng Cát Hải phát hiện bắt quả tang thu giữ toàn bộ số ma túy nói trên.

Kết luận giám định số 476/KLGĐ-MT ngày 31/7/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng kết luận: Chất bột màu trắng (mẫu M1) gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,20 gam, là loại Heroine. Tinh thể màu trắng (mẫu M2) gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,45 gam, là loại Methamphetamine.

Như vậy tổng khối lượng các chất ma túy mà bị cáo cất giấu với mục đích sử dụng là 0,65 gam là loại Heroine và Methamphetamine.

Từ những phân tích trên đây có đủ cơ sở để kết luận: Nguyễn Hữu T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Như vậy Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cát Hải truy tố bị cáo là có cơ sở, đúng người, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo vi phạm nghiêm trọng pháp luật hình sự, gây mất trật tự trị an, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh chính trị của địa phương. Bị cáo đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến khách thể là chính sách quản lý độc quyền các chất ma túy, chất gây nghiện của Nhà nước.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Về nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, do đó, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về nhân thân: Bị cáo khai đã từng cai nghiện tập trung tại Trung tâm cai nghiện số 06 Cát Bi, quận Hải An, thành phố Hải Phòng. Tại phiên tòa bị cáo xác nhận nghiện ma túy nhiều năm nay, khó cai nghiện. Do đó, cần xử lý nghiêm, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới đủ tính răn đe và giáo dục và cũng là bài học cho bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng, điều kiện kinh tế còn khó khăn. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Đánh giá về vật chứng, xử lý vật chứng:

Đối với chiếc xe máy hiệu Wave BKS 16L9- 5674 do Nguyễn Hữu T sử dụng làm phương tiện để đi mua ma túy, qua xác minh đăng ký xe mang tên Phạm Bá A là tài sản riêng của T, vì vậy cần tịch thu sung quỹ Nhà nước; 01 phong bì niêm phong chứa ma túy hoàn lại sau giám định đây là loại Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đánh giá về những vấn đề khác:

Đối với người đàn ông bán ma túy cho bị cáo, do không xác định được lai lịch, địa chỉ nên không có căn cứ xử lý.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự người bị kết án phải nộp án phí hình sự sơ thẩm, mức chịu án phí căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30-12- 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm i khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu T 27 (hai mươi bảy) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 31-7-2020.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, khoản 1 và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy toàn bộ số ma túy mà Cơ quan Giám định hoàn lại sau giám định; tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 xe máy hiệu Wave BKS 16L9-5674 và 01 đăng ký xe số 0024596 mang tên Phạm Bá A, tất cả vật chứng hiện đang cất giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cát Hải theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 14-9-2020.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào khoản 1 Điều 331, khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ